PostHeaderIcon THÂN THỂ CON NGƯỜI, THẾ GIỚI HUYỀN DIỆU

Trong thời đại vi tính và kỹ thuật số hiện nay, chúng ta đang chứng kiến các tiến bộ vượt bực gây kinh ngạc, chẳng hạn như các Ipad, Iphone, thư viện cầm tay vv... Những tiến bộ đó có thể khiến cho chúng ta quên đi một bộ máy vô cùng tinh vi và huyền diệu khác, mà chúng ta tiếp xúc và sử dụng mỗi ngày: đó là chính thân thể của mình.

Thân thể con người là một tiểu vũ trụ vô cùng tinh vi

Đúng vậy, thân thể con người là một thế giới, một tiểu vũ trụ, một tiểu càn khôn, được cấu trúc một cách vô cùng tinh vi, tài tình và toàn vẹn, không thể tưởng tượng nổi. Càng học hiểu về cấu trúc, nhiệm vụ và khả năng của các cơ phận trong thân thể, chúng ta càng phải khâm phục, cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho con người một món qùa tuyệt diệu như vậy. Tuyệt diệu hơn nữa là thân thể và các cơ phận con người được cấu trúc tài tình đến độ nó có nguyên cả một hệ thống giúp chống, chữa và phòng ngừa mọi thứ bệnh tật, mà không cần phải dùng tới thuốc. Đây là điều ít người biết tới. Chính vì thế những gì trình bày ở đây đặc biệt quan trọng và định đoạt đối với thuật dưỡng sinh. Hiểu được các nguyên tắc nền tảng tổng quát này là chúng ta nắm được chìa khóa giúp giữ gìn sức khỏe một cách rất đơn sơ, hiệu nghiệm và không tốn tiền. Chúng là nền tảng chung của thuật dưỡng sinh bao gồm nhiều kiểu chữa bệnh khác nhau như Bấm huyệt, Thoa bóp phản xạ học, Shiatsu, Do In và Reiki của Nhật Bản, Diện chẩn, Nhĩ châm cũng như Châm cứu và Thiên khí năng vv...

Một vài con số

Thân xác con người là một bộ máy kỳ diệu, không phải chỉ vì các con số gây kinh ngạc, nhưng nhất là do cấu trúc nội tại của nó. Chỉ nội sự kiện thân xác con người hoạt động liên lỉ trong 70-80 năm, hay có khi 100 năm hoặc hơn nữa, đã đủ khiến cho chúng ta phải ngạc nhiên khâm phục, vì không có bộ máy nào trên thế giới này có thể hoạt động bền bỉ như thế.

Trên bình diện con số có lẽ ít ai biết rằng trong đời người (70-80 năm) qủa tim đập trên 3 tỷ lần và bơm 182,4 triệu lít máu. Mỗi ngày máu luân chuyển 96.540 cây số trong cơ thể chúng ta. Bộ não trung bình của một người có 100 tỷ tế bào. Các xung động thần kinh truyền đến não và từ não truyền đi khắp thân thể với vận tốc 274 cây số giờ. Các răng xem ra là các mảnh xương đặc, nhưng thực ra chúng được cấu tạo bằng các ống gắn liền với nhau. Nếu xếp các ống răng lại với nhau chúng sẽ dài hàng chục cây số vv... Tuy nhiên, chính cấu trúc của cơ thể cho thấy sự hài hòa của tiểu càn khôn là thân xác con người. Cho đến nay giới y khoa vẫn chưa hiểu biết hết hoạt động của não bộ và hệ thần kinh, và các chuyên viên não bộ vẫn tiếp tục tìm tòi khảo cứu.

Nói chung, mỗi một cơ phận thuộc lục phủ gồm dạ dầy, mật, tam tiêu, bọng đái, ruột già, ruột non (vị, đảm, tam tiêu, bàng quang, đại tràng, tiểu tràng), và ngũ tạng gồm tim, gan, lá lách, phổi và thận (tâm, can, tỳ, phế, thận) thuộc một bộ máy hay hệ thống hô hấp, tuần hoàn tiêu hóa cũng như các xương và các cơ bắp, gân và da, đều là cả một thế giới với các cấu trúc và hoạt động vô cùng tinh vi và hữu hiệu.

Ba hệ thống luân lưu

Ngoài các cơ phận với các nhiệm vụ chính xác, thân xác con người gồm các hệ thống luân lưu là máu, khí năng và hạch dịch.

1) Nhờ mạng lưới động mạch và tĩnh mạch máu được luân chuyển đến mọi tế bào của các cơ phận đem theo các chất bổ và dưỡng khí nuôi sống toàn thân thể.

2) Qua 12 đường kinh chính gồm 6 kinh âm và 6 kinh dương chạy dọc theo chân tay và thân mình con người phía trước và phía sau, khí năng và sinh lực luân lưu qua mọi cơ phận và các mô bắp nhờ mạng lưới các mạch lạc là những đường kinh phụ nhỏ hơn.

3) Các tuyến hay hạch nội tiết sản xuất và cung cấp dung dịch giúp điều hòa thân thể con người, sản xuất các kháng tố giúp chống lại mọi thứ vi khuẩn và giữ gìn thân thể khỏe mạnh.

Khi ba hệ thống này phát triển và hoạt động quân bình hài hòa, thì con người khỏe mạnh. Nhưng khi chúng bị bế tắc, không luân lưu điều hòa, các cơ phận trong người không nhận được đầy đủ khí huyết, bị mất quân bình, dần dần yếu nhược, sinh bệnh và bị hư hại.

Bấm huyệt, thoa bóp phản xạ học và châm cứu

Bấm huyệt, thoa bóp phản xạ học và châm cứu là ba phương thức chữa bệnh cổ xưa nhất trong lịch sử nhân loại. Thịnh hành bên Ai Cập và Trung Hoa. Chúng là các thuật chữa bệnh đã được người Ai Cập và Trung Hoa xử dụng từ nhiều thế kỷ trước công nguyên.

Tại Saqqara bên Ai Cập, các nhà khảo cổ đã khám phá ra một bức vẽ trên tường mộ của một danh y sống vào khoảng năm 2.300 trước công nguyên. Bức tranh diễn tả hai cảnh: cảnh thứ nhất là một người đang bấm huyệt trên ngón cái chân phải của một người khác; và cảnh thứ hai là một người đang bấm huyệt trên ngón cái tay trái cho một người khác. Bên trên bức hình bốn người là văn bản gồm các chữ tượng hình trong chữ viết của Ai Cập giải thích ý nghĩa và mục đích của kiểu chữa bệnh bấm huyệt này. Các hình kim tự tháp biểu tượng cho năng lực; con chim cú diễn tả sự khôn ngoan và sự hiểu cao biết rộng; ba con chim mầu trắng diễn tả niềm an bình, sức khỏe và sự thịnh vượng. Bên cạnh đó là nhiều dụng cụ khác nhau, mà các bác sĩ thời xưa dùng để giải phẫu. Bức tranh diễn tả sống động việc dùng phương pháp bấm huyệt và thoa bóp phản xạ học để chữa bệnh. Hơn bốn ngàn năm đã qua đi, nhưng kiểu bấm huyệt chữa bệnh vẫn theo cùng một nguyên tắc: đó là tác động trên các huyệt đạo và hệ kinh mạch để đả thông khiến cho khí huyết lưu thông đều hòa, vì thế giảm đau và trị bệnh.

Cùng với thuật bấm huyết và thuật thoa bóp phản xạ học, người Trung Hoa còn dùng phương pháp châm cứu nữa. Danh y Vương Uy, sống vào thế kỷ thứ IV trước công nguyên, dùng kim châm vào thân thể người bệnh, trước khi dùng ngón tay cái nhấn mạnh trên bàn chân của bệnh nhân, nhấn đi nhấn lại cho tới khi nào đạt mục đích chữa trị mới thôi. Hiệu qủa đó kéo dài, khi ngón tay còn ấn và giải thoát năng lực chữa trị trong thân thể người bệnh.

Sự kiện này chứng minh cho thấy từ mấy ngàn năm trước công ngyên người Ai Cập và người Trung Hoa đã biết chữa bệnh bằng bấm huyệt, phản xạ học và tiếp đến là châm cứu. Ba nghệ thuật chữa bệnh nổi tiếng này hiện được phổ biến rộng rãi tại nhiều nơi trên thế giới. Nhưng trong nhiều thế kỷ chúng đã không được biết tới hay bị lãng quên, và cả ngày nay nữa mới chỉ có châm cứu là được y khoa tây phương chính thức nhìn nhận. Trong khi bấm huyệt và thoa bóp phản xa học vẫn chưa được chính thức thừa nhận, tuy thường khi chúng có công hiệu tức khắc, nhanh chóng hơn cả châm cứu.

Riêng việc thoa bóp có lẽ đã có từ khi con người hiện diện trên trái đất này, vì nó là cử chỉ phản xạ đầu tiên của con người, khi bị đau nhức vì bất cứ lý do gì. Đó là nguồn gốc của khoa phản xạ học sẽ được Tây Phương nghiên cứu, khai triển, hệ thống hóa và phổ biến sau này.

Thoa bóp phản xạ học được tái khám phá và phổ biến bên Hoa Kỳ

Bên Tây Âu thuật thoa bóp phản xạ học đã được bác sĩ Mỹ William H. Fitzgerald nghiên cứu và phố biến hồi đầu tiền bán thế kỷ XIX. Bác sĩ Fitzgerald tốt nghiệp đại học Vermont, làm việc tại nhà thương thành phố Boston và Trung tâm nhà thương Mũi Họng thành phố London. Ông cũng làm việc hai năm tại Vienne, thủ đô nước Áo, rồi sau đó trở lại làm việc ở nhà thương St. Francis tại Hartford, bang Connecticut như là bác sĩ trưởng ngành giải phẫu mũi họng. Là thành viên của hầu hết các Hiệp Hội bác sĩ Mỹ thời đó, năm 1913 bác sĩ Fitzgerald bắt đầu lôi kéo sự chú ý của giới y khoa với bài thuyết trình về phản xạ học, mà ông gọi là “phương pháp chữa trị vùng”.

Bác sĩ Fitzgerald chia thân thể con người thành 10 vùng năng lượng theo hàng dọc, mỗi bên 5 đường. Năm đường năng lượng đó bắt đầu từ các ngón chân và các ngón tay chạy dọc lên cho tới đầu. Bác sĩ nhận thấy khi dùng ngón tay hay vật gì đó ấn trên các vùng khác nhau của thân thể, ông có thể làm cho hết đau nhức, hay khiến cho phần thân thể tương ứng bị tê. Cùng với hai bác sĩ Edwin Bowers và George Starr White ở Los Angeles bang California, bác sĩ Fitzgerald phổ biến phương pháp trị liệu hữu hiệu này trong giới y học cũng như trong dân chúng. Trong số các bác sĩ nhiệt liệt ủng hộ bác sĩ Fitzgerald có bác sĩ Joe Shelby Riley. Trong một cuộc đàm đạo tình cờ với nữ bác sĩ Eunice D. Ingham, chuyên viên vật lý trị liệu tại nhà thương St. Petersburg ở Tampa Bay, bang Florida, ông đã hoàn toàn thay đổi hướng đi của bà. Nữ bác sĩ Ingham rất hứng khởi trước các kết qủa phi thường của khoa phản xạ học, nên đã áp dụng nó trong việc chữa trị các bệnh nhân của bà. Bà nhận thấy các đau đớn của bệnh nhân giảm ngay, họ có thể cử động tay chân dễ dàng; và khi áp dụng phương pháp phản xạ học cho các bệnh nhân sau khi họ được giải phẫu, việc lành bệnh tự nhiên tiến triển rất mau.

Các kết qủa khả quan khiến cho bà ngạc nhiên tới độ năm 1930 bà từ chức bác sĩ tại nhà thương St. Petersburg để mở phòng mạch riêng. Tiếng tăm của bà lan rất nhanh trên toàn nước Mỹ, và có rất đông người tới xin chữa bệnh. Sau đó bà bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên về khoa phản xạ học, trước khi mở trường dậy về ngành này và qua đời năm 1952. Trong số các học trò giỏi của bà có bà Mildred Carter, tác giả ba cuốn sách bán rất chạy tại Hoa Kỳ là: “Phản xạ học thân mình. Chữa lành với các ngón tay của bạn”; “Hãy tự chữa cho bạn với Phản xạ học chân”; “Phản xạ học tay. Chìa khóa cho sức khỏe toàn hảo”. Bác sĩ Mildred Carter đã viết ba cuốn sách này với sự cộng tác của con gái là bác sĩ Tammy Weber. Cùng với cuốn “Bấm huyệt, cơ thể, phản xạ học và sinh lực” của Madeleine Turgeon, bộ sách ba cuốn này được xử dụng như tài liệu căn bản cho phần trình bầy về phản xạ học trong loạt sách “Thuật Dưỡng Sinh”. Tại các nước châu Âu nghành phản xạ học xem ra ít được biết tới hay được phố biến rất hạn hẹp giữa một số các chuyên viên vật lý trị liệu. Tâm thức tin tưởng vào các loại thuốc hóa chất, ảnh hưởng to lớn và các lợi lộc khổng lồ của kỹ nghệ dược khoa là các lý do chính ngăn cản sự phát triển của ngành phản xạ học và các kiểu chữa trị khác không cần tới thuốc, trong đó có cả thuật bấm huyệt, châm cứu và thiên khí năng.

Những kết quả “thần hiệu” của phản xạ học

Khi được áp dụng đúng đắn, phản xạ học đem lại những kết qủa “thần hiệu” và là một nghệ thuật dưỡng sinh tuyệt diệu.

- Điều tuyệt diệu thứ nhất: đó là bạn là bác sĩ của chính mình, của bạn bè thân thuộc và tất cả những ai có bệnh, muốn được giúp đỡ.

- Điều tuyệt diệu thứ hai: đó là bạn” không cần phải dùng đến bất cứ thứ thuốc nào, cũng không cần phải kiêng cữ gì đặc biệt.

- Điều tuyệt diệu thứ ba: đó là ai cũng có thể làm được và có thể áp dụng cho mọi lứa tuổi: trẻ em, người lớn, người già cả.

- Điều tuyệt diệu thứ bốn: đó là bạn không cần phải có các dụng cụ đặc biệt nào. Vì các dụng cụ chữa bệnh qúa đơn sơ và ở ngay trước mắt: các ngón tay của bạn, hay bất cứ vật dụng gì, kể cả vá, thìa, đũa bếp, bút chì, bút bích, chai, lọ, lược chải đầu, đá, sỏi, miếng gỗ, kẹp phơi quần áo, kẹp sách, dây thun vv... bất cứ gì có thể tác dụng trên các điểm cần thoa bóp, nhấn, đẩy và bấm.

- Điều tuyệt diệu thứ năm: đó là chỉ trong vòng từ 3 đến 15, 20 phút bạn có thể làm giảm hay chữa trị dứt nhiều loại bệnh khiến cho nhiều người khổ sở cả đời như: nhức đầu kinh niên, đau nhức tứ chi...

Thật vậy, phản xạ học không chỉ giúp bạn phân biệt và đối phó với mọi thứ bệnh tật, đau nhức, mà còn giúp bạn khám phá ra các sức mạnh trị bệnh tự nhiên giúp giảm đau đớn, và trong nhiều trường hợp hoàn toàn chữa lành tật bệnh chỉ bằng cách “thoa bóp” trên các điểm phản xạ, trong một lúc và theo một cách thức nào đó.

Với phản xạ học bạn sẽ tự xử dụng các sức mạnh chữa trị tự nhiên để tái tạo quân bình và sinh khí cho các hạch nội tiết, khiến cho khí huyết trong người lưu thông đều hòa, cung cấp dưỡng khí và mọi chất dinh dưỡng cần thiết cho các tế bào, giải tỏa mọi căng thẳng bế tắc, làm cho da dẻ trẻ đẹp hồng hào trở lại, ăn ngủ ngon hơn, tăng cường sức khỏe và hạnh phúc của bạn: “Suối nguồn tuơi trẻ ở trong người bạn”.

Rất nhiều chứng đau đầu sẽ biến mất, khi bạn thoa nắn hai ngón chân cái, vì chúng bao gồm các phản xạ của đầu. Thoa nắn các vùng tương ứng bạn có thể chữa bệnh chân tay co quắp đau đớn vì chứng sưng khớp xương. Phản xạ học là một trong những phương pháp tự nhiên công hiệu nhất giúp giảm đau đớn, bệnh tật, tái tạo năng lực, duy trì sức khỏe tốt mà không gây ra các phản ứng phụ.

Mười vùng năng lượng và thần kinh hệ trên thân thể con người

Ai trong chúng ta cũng biết cấu trúc tổng quát của thân thể con người, nhưng rất ít người biết rằng toàn hệ thống thần kinh có các điểm khởi hành ở 10 đầu ngón chân, mười đầu ngón tay và trên lòng hai bàn chân, lòng hai bàn tay và trên hai tai, cũng như trên mặt. Các đầu dây thần kinh này chạy qua các cơ phận trong toàn thân thể con người. Khi tác động (bấm, ấn, thoa, bóp) trên các đầu ngón chân, đầu ngón tay, từng ngón chân tay và các vùng khác nhau trên lòng hai bàn chân và lòng hai bàn tay cũng như hai tai và trên mặt, là chúng ta trực tiếp tác động trên các đầu dây thần kinh nối liền với các cơ phận tương ứng. Nếu không bị đau, các cơ phận này sẽ được gia tăng sinh lực; nếu bị suy yếu, chúng sẽ được bồi dưỡng; nếu có bệnh, chúng sẽ giảm đau và từ từ khỏi bệnh.

Bác sĩ Hiroshi Motoyama, người Nhật, không chỉ nghiên cứu các vùng phản xạ và các đường kinh tuyến để đẩy huyệt, mà còn chế ra máy điện từ xác định các tắc nghẽn năng lượng dựa trên sự kích thích điện từ trên các đường kinh, qua đó bác sĩ chẩn bệnh trước khi nó lộ hiện ra ngoài. Các nghiên cứu này của bác sĩ Motoyama xác nhận thực tại mỗi khi một điểm nào đó trên đường kinh bị tắc nghẽn, dòng năng lượng của nó bị chặn lại hay hạn chế kéo theo tình trạng bất an, ảnh hưởng trên một vùng hay trên cơ phận liên hệ.

Nhấn, đẩy, thoa, bóp giúp thông thương kinh mạch, khí huyết luân lưu đều hòa, cung cấp hồng huyết cầu và dưỡng khí cần thiết cho mọi tế bào, khiến cho cơ phận ấy khỏe mạnh trở lại và hết đau yếu.

1. Để có thể áp dụng đúng đắn phương pháp phản xạ học, điều quan trọng là phải thuộc vị trí của các cơ phận trong thân thể và các vùng phản xạ tương ứng. Càng năng nhìn và nghiên cứu các đồ hình bao nhiêu, bạn càng nhận diện ra mười vùng năng lượng hàng dọc và các cơ phận chúng đi qua bấy nhiêu.

Mười vùng năng lượng chạy dọc theo thân thể mỗi bên 5 đường cân đối với nhau từ năm ngón chân và từ năm ngón tay: 5.4.3.2.1 - 1.2.3.4.5.

Tâm của thân thể là vùng 1: đàng trước chạy tử đỉnh đầu xuống giữa trán, dọc sống mũi, xuống môi, miệng, cằm, giữa cổ, qua hạch Amiđan, xuống giữa ngực, bụng, rốn, hạch Đan Điền, bộ sinh dục và hậu môn. Đàng sau chạy từ đỉnh đầu xuống óc con, gáy, và chạy dọc xương sống cho tới xương cùng. Hai đường kinh chỉ huy là Đốc mạch (= kinh dương chạy đàng sau lưng) và Nhâm mạch (= kinh âm chạy phía trước bụng).

1) Vùng 1 bắt đầu từ ngón chân cái và ngón tay cái của cả hai bên, chạy dọc lên mặt trong của chân và cánh tay lên đến đỉnh đầu (huyệt Bách Hội, tức Chakra số 7).

Nó chạy qua các cơ phận như hốc mũi, vòm miệng, duyến tùng, duyến yên, tim (bên trái), dạ dầy, cột sống, dạ con, bọng đái, bộ phận sinh dục và hậu môn.

2) Vùng 2 bắt đầu từ ngón chân và ngón tay thứ hai (tay trỏ) của cả hai bên, chạy dọc thân thể và cánh tay cho đến đỉnh đầu.

Nó chạy qua các cơ phận như hai mắt, xoang, duyến ức, duyến cận giáp, duyến giáp, duyến tụy, phổi, phế quản, hạch hạnh (Amiđan), tim và dạ dầy. Như thế, nhiều cơ phận thuộc cả vùng 1 và vùng 2.

3) Vùng 3 bằt đầu từ ngón chân giữa và ngón tay giữa của cả hai bên, chạy dọc thân thể và dọc cánh tay lên đến đỉnh đầu.

Nó chạy qua mắt, duyến giáp, duyến ức, duyến tụy, phổi, thận ở cả hai bên, dạ dầy và ruột thừa, gan và túi mật (bên phải).

4) Vùng 4 bắt đầu từ ngón chân thứ tư và ngón tay thứ tư (ngón tay đeo nhẫn) của cả hai bên, chạy dọc thân thể và cánh tay lên đến đầu.

Nó chạy qua ruột thừa, gan và van hồi tịt (bên phải), lá lách (bên trái) vai, tai và phổi (cả hai bên).

5) Vùng 5 bắt đầu từ ngón chân út và ngón tay út của cả hai bên.

Nó chạy qua gan (bên phải) và hai bên tai, gáy.

2. Như thế hai bàn chân và hai bàn tay của chúng ta được chia thành 5 phần tương ứng với 5 phần trên thân thể với các cơ phận liên hệ.

1) Khi bấm, đẩy, nắn, thoa, bóp hay chuyền thiên khí năng cho phần I gồm các ngón chân và các ngón tay là chúng ta tác động trên não bộ, các cơ phận và các phần khác của đầu như: óc, tai, mắt, mũi, họng, cổ, gáy, duyến tùng, duyến yên, duyến giáp trạng, phần trên cùng của cột sống, và chữa các tình trạng mất quân bình, yếu nhược hay bệnh hoạn của chúng.

2) Khi bấm, nắn, đẩy, thoa, bóp hay chuyền thiên khí năng trên phần II, kế tiếp các ngón chân, các ngón tay là chúng ta tác động trên vùng ngực và các cơ phận của nó như: phổi, tim, ngực, duyến ức, duyến giáp, duyến cận giáp, duyến tụy, vai, cánh tay, phần thứ hai của cột sống.

3) Khi bấm, nắn, đẩy, thoa, bóp hay chuyền thiên khí năng trên phần III, chúng ta tác động trên các cơ phận như: gan, mật, dạ dầy, lá lách, tuyến thượng thận, thận, ruột gìa (đại tràng) khúc đi lên, khúc ngang và khúc đi dọc xuống, ruột non (tiểu tràng), hai bên hông và phần thứ ba của cột sống.

4) Khi bấm, nắn, đẩy, thoa, bóp hay chuyền Thiên Khí Năng trên phần IV, chúng ta tác động trên bộ phận sinh dục, bọng đái, ruột cùng (trực tràng), và phần cuối cùng của cột sống.

5) Khi bấm, nắn, đẩy, thoa, bóp hay chuyền Thiên Khí Năng trên phần V, chng ta tác động trên các cơ phận thuộc vùng này.

Ngoài việc thoa, bóp 4 phần trên đây của cơ thể con người, chúng ta có thể thường xuyên làm các động tác chữa bênh rất đơn sơ và hữu ích sau đây:

1) Dùng móng tay cái bấm phần trước móng các đầu ngón tay và đầu ngón chân, để kích thích các đường kinh khởi đầu hay kết thúc nơi các đầu ngón tay và đầu ngón chân.

2) Nắn và xoay hai bên đầu các ngón tay và đầu các ngón chân để kích thích các kinh mạch chạy qua các cơ phận trong người.

3) Xoay tròn quanh các ngón tay và các ngón chân, để kích thích các kinh mạch và tác đông trên các cơ phận trong thân thể.

4) Thoa cả hai bàn tay và hai bàn chân thường xuyên khi có giờ, để tác động trên các dây thần kinh nối liền với các cơ phận toàn thân thể.

5) Thoa hai tai, bên trong cũng như bên ngoài, từ trên xuống dưới, để tác động trên các dây thần kinh và các huyệt nối liền với các cơ phận và cấu trúc thân thể, theo các nguyên tắc của thuật nhĩ châm.

6) “Rửa mặt khô”, tức thoa mặt bằng hai bàn tay, trên trán, hai bên thái dương, hai bên má gồm cả tai, hai bàn tay úp lên mặt đưa lên đưa xuống xuống từ trán trên mắt mũi miệng cằm, để tác động trên các đầu dây thần kinh và các huyệt nối liền với các cơ phận trong người, theo các nguyên tắc của thuật diện chẩn.

Nắn bàn chân để chẩn bệnh


Đây là lý do giải thích tại sao khi khám bệnh bằng cách nắn bàn chân, chúng ta có thể nhận ra ngay cơ phận nào trong người bị bệnh hay suy yếu hoặc đang có vấn đề. Và cách trị liệu là thoa bóp vùng đó cho tới khi nào hết đau là bớt hay khỏi bệnh.

Do đó, cần học nhớ các phần của mu và lòng bàn tay và bàn chân nối liền với các cơ phận khác nhau trong cơ thể để có thể chữa trị hữu hiệu. Khi có thiên khí năng, việc chữa bệnh bằng cách bấm huyệt và thoa bóp phản xạ học rất công hiệu, vì khí năng được chuyền vào các đường kinh, các huyệt và các vùng trong cơ thể khiến cho chúng mau hồi phục hơn.

Âm dương và hệ thống kinh huyệt trong quan niệm đông y

Thật ra, những gì nói trên đã có từ lâu đời trong quan niệm của đông y với ý niệm nền tảng về “Âm Dương”, được biểu tượng bằng đồ hình vòng tròn Âm Dương, gồm hai vành nửa đen nửa trắng, với một nhân đen trong phần trắng và một nhân trắng trong phần đen, diễn tả thế quân bình, hòa hợp, thấm nhập, hiệp nhất, không tách rời nhau giữa âm dương.

Ý nghĩa

1) Âm diễn tả: bóng tối, mặt trăng, nước, sự thụ động, hướng hạ (đi xuống), nữ giới, sự co thắt, lạnh, mùa đông, bên trong, nặng.

- Các khía cạnh diễn tả âm lực là: xương, gân cốt, phía trước, bên trong thân thể

2) Dương diễn tả: ánh sáng, mặt trời, lửa, hoạt động, hướng thượng (đi lên), nam giới, sự trải rộng, nóng, mùa hạ, bên ngoài, nhẹ.

- Các khía cạnh diễn tả dương lực là: da, lông tóc, sau lưng, bên ngoài thân thể.

Thân thể con người là một tiểu vũ trụ hay tiểu càn khôn tương ứng với đại vũ trụ hay đại càn khôn. Sức khỏe tùy thuộc nơi thế quân bình âm dương trong người. Khi mất thế quân bình, qúa nhiều âm hay qúa nhiều dương là sinh bệnh tật. Tái lập thế quân bình âm dương là hết bệnh.

Năm nguyên tắc của Âm Dương

1) Mọi vật đều có khía cạnh âm và khía cạnh dương.

2) Mỗi khía cạnh âm dương đều có thể chia thành một cặp khía cạnh âm dương khác.

3) Âm dương tùy thuộc nhau, và không có ý nghĩa nếu không có nhau.

4) Âm dương kiểm soát lẫn nhau. Nơi đâu âm yếu, thì dương mạnh, và ngược lại. Nơi đâu có qúa nhiều âm, thì dương sẽ gây ra vấn đề sức khỏe, và ngược lại.

5) Dưới một vài trạng thái âm có thể biến thành dương và dương có thể biến thành âm.

Nhiệt độ là cách biểu lộ âm dương ý nghĩa nhất trong đông y: âm lạnh, dương nóng. Từ trong ra ngoài, từ dưới lên trên, từ co thắt tới nở ra là các cực âm dương khác được dùng để miêu tả tình trạng sức khỏe của con người. Châm cứu là dương liệu pháp vì tác động từ ngoài vào trong. Trong khi thảo dược là âm liệu pháp, vì tác động ở bên trong. Vì âm dương có thể biến đổi với nhau nên một bệnh có thể bao gồm cả hai khía cạnh: điển hình là trường hợp sốt nóng lạnh.

3. Các cơ phận hay lục phủ ngũ tạng trong con người được phân chia thành các cơ phận âm hay cơ phận dương, và có các đường kinh âm hay dương chạy ngang qua.

Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người cách tài tình khiến cho thân thể con người là một từ trường âm dương:

- bên ngoài là dương bên trong là âm,

- phía sau là dương phía trước là âm,

- bên trên là dương bên dưới là âm.

Cấu trúc âm dương này được áp dụng cho mọi phần trong thân thể con người. Trong nghĩa đó:

- phía ngoài hai cánh tay là dương, phía trong hai cánh tay là âm,

- phía ngoài hai đùi và bắp chân từ hông xuống dưới bàn chân là dương, phía trong là âm,

- phía sau lưng là dương, phía trước bụng là âm,

- đỉnh đầu là dương, dưới đít là âm,

- hai mu bàn tay và hai mu bàn chân là dương, hai lòng bàn tay hai lòng bàn chân là âm.

- Thận, gan, lá lách, phổi, tim là các cơ phận âm.

- Bọng đái, mật, dạ dầy, ruột non, ruột già là các cơ phận dương.

Các cơ phận âm-dương đi từng đôi song song với nhau như sau:

- Thận / Bọng đái

- Gan / Mật

- Lá lách / Dạ dầy

- Phổi / Ruột già

- Tim / Ruột non.

Mười đường kinh chạy dọc theo mười đầu ngón chân, mười đầu ngón tay và thân thể con người phiá trước cũng như phía sau đều đi ngang qua các cơ phận nói trên cũng chia thành các mạch lạc li ti khác nối liền với mọi vùng và tế bào trong thân thể con người.

- 5 kinh âm là: Thận kinh, Can kinh, Tỳ kinh, Phế kinh, Tâm kinh.

- 5 kinh dương là: Bàng quang kinh, Đởm kinh, Vị kinh, Đại tràng kinh và Tiểu tràng kinh.

Cộng với 4 đường kinh mạch khác

- Mạch đốc (Dương mạch) chạy dọc sau lưng từ đỉnh đầu xuống tới hậu môn

- Mạch nhâm (Âm mạch) chạy dọc trước bụng từ dưới cằm xuống bụng dưới.

- Tâm bào lạc (âm)

- Tam tiêu (dương)

12 kinh mạch ấy xuyên qua mọi cơ phận con người phía trước cũng như phía sau và hoạt động mạnh trong một số giờ trong ngày:

1. Thủ thái âm Phế kinh gồm 11 huyệt (3-5 giờ sáng).

2. Thủ dương minh Đại trường kinh gồm 20 huyệt (5-7 giờ sáng).

3. Túc dương minh Vị kinh gồm 45 huyệt (7-9 giờ sáng).

4. Túc thái âm Tỳ kinh gồm 21 huyệt (9-11 giờ sáng).

5. Thủ thiếu âm Tâm kinh gồm 9 huyệt (11 giờ sáng tới 1 giờ chiều).

6. Thủ thái dương Tiểu trường kinh gồm 19 huyệt (1-3 giờ chiều).

7. Túc thái dương Bàng quang kinh gồm 67 huyệt (3-5 giờ chiều).

8. Túc thiếu âm Thận kinh gồm 27 huyệt (5-7 giờ chiều).

9. Thủ quyết âm Tâm bào lạc kinh gồm 9 huyệt (7-9 giờ tối).

10. Thủ thiếu dương Tam tiêu kinh gồm 23 huyệt (9-11 giờ tối).

11. Túc thiếu dương Đởm kinh gồm 44 huyệt (11 giờ tối - 1 giờ sáng).

12. Túc khuyết âm Can kinh gồm 14 huyệt (1-3 giờ sáng).

13. Dẫn Mạch (Nhâm Mạch) âm gồm 24 huyệt.

14. Đốc Mạch dương gồm 28 huyệt.

Tất cả gồm 361 huyệt.

- Dẫn Mạch âm (hay Nhâm Mạch) và Đốc Mạch dương chạy dọc phía

trước bụng và sau lưng đối nhau.

- 12 đường kinh cứ song song từng cặp âm dương đối nhau trên tay (thủ) và trên chân (túc).

Ngoài ra còn có 6 kinh mạch nối liền nhiều huyệt thuộc các đường kinh khác nhau

1. Kinh mạch Xung gồm 13 huyệt.

2. Kinh mạch Đái gồm 3 huyệt.

3. Kinh mạch Âm kiêu gồm 6 huyệt.

4. Kinh mạch Dương kiêu gồm 12 huyệt.

5. Kinh mạch Âm duy gồm 7 huyệt.

6. Kinh mạch Dương duy gồm 14 huyệt.

Tổng cộng gồm 55 huyệt. Như thế tất cả có 416 huyệt.

Ngoài ra còn có 40 Kỳ Huyệt cũng thường được sử dụng để chữa bệnh.

Thuật châm cứu dùng kim hay đốt lá ngải cứu tác động trên một số các huyệt đạo chính của 20 đường kinh mạch kể trên.

Bấm huyệt (digitopressione) cũng theo cùng các nguyên tắc này, nhưng chỉ dùng ngón tay hay một vài dụng cụ thay thế ngón tay để tác động trên các huyệt đạo.

- Nó dễ và ít nguy hiểm hơn châm cứu.

- Nhiều khi tác động mau và hữu hiệu hơn châm cứu.

Đặc biệt khi có thiên khí năng mà chữa bệnh bằng phản xạ học và bấm huyệt lại càng có tác dụng mau và công hiệu hơn nữa, vì khí năng được chuyền vào các vùng phản xạ, kinh mạch và huyệt đạo, tác động trực tiếp trên các cơ phận bị suy yếu hay có bệnh.

4. Hệ thống các điểm “tận cùng” hay “khởi đầu” của các đường kinh ở hai mép dưới các móng tay và móng chân

Vẫn theo cấu trúc nói trên ngành châm cứu bằng điện (elettro-agopuntura) tác động trên các điểm tận cùng hay các điểm khởi đầu của các đường kinh mạch của liệu pháp châm cứu cổ điển. Các điểm này nằm ở hai mép phía dưới của các móng chân và các móng tay.

1) Trên tay phải và tay trái:

Cạnh móng ngón tay cái phía dưới

- Mép ngoài: mạch bạch huyết

- Mép trong: phế kinh

Cạnh móng ngón tay trỏ phía dưới

- Mép phía ngón cái: đại tràng kinh

- Mép phía ngón giữa: hệ thống thần kinh

Cạnh móng ngón tay giữa phía dưới

- Mép phía ngón trỏ: hệ thống tuần hoàn - tính dục

- Mép phía ngón đeo nhẫn: các điểm dị ứng

Cạnh móng ngón tay đeo nhẫn phía dưới

- Mép phía ngón giữa: các điểm suy thoái của các cơ phận

- Mép phía ngón út: mạch tam tiêu

Cạnh móng ngón tay út phía dưới

- Mép phía ngón đeo nhẫn: tâm kinh

- Mép phía ngoài: tiểu tràng kinh

2) Trên chân trái và chân phải

Cạnh móng ngón chân cái

- Mép ngoài: phế kinh (phổi)

- Mép trong: can kinh (gan)

Cạnh móng ngón chân thứ hai

- Mép phía ngón chân cái: các điểm suy thoái của các khớp

- Mép phía ngón thứ ba: vị kinh (dạ dầy)

Cạnh móng ngón chân thứ ba

- Mép phía ngón thứ hai: cơ nối

- Mép phía ngón thứ tư: các điểm của da

Cạnh móng ngón chân thứ tư

- Mép phía ngón thứ ba: suy thoái dạng mỡ

- Mép phía ngón út: đởm kinh (mật)

Cạnh móng ngón chân út

- Mép phía trong: thận kinh

- Mép phía ngoài: bàng quang kinh

Khi nắn, bấm, thoa, bóp, và chuyền thiên khí năng vào các điểm này là chúng ta tác động trên các đường kinh và các cơ phận liên hệ, củng cố và chữa bệnh cho chúng.

Một vài kết qủa của các nghiên cứu liệu pháp châm cứu, bấm huyệt và thoa bóp phản xạ

Ngày nay ngành liệu pháp phản xạ (riflessoterapie) đã cung cấp cho chúng ta một số hiểu hiết rất giá trị khác giúp giữ gìn sức khỏe hữu hiệu.

Ngoài việc năng thoa và nắn bóp lòng và mu hai tay và hai bàn chân, cũng như hai cổ tay và hai cổ chân (có thể dùng bàn tay quay chung quanh cổ tay và cổ chân), là những vùng phản xạ gắn liền với mọi cơ phận trong người, để được khỏe mạnh hay chữa bệnh cũng nên thoa bóp và chuyền thiên khí năng cho chúng bằng cách nắm hai cổ tay và hai cổ chân, và chuyền thiên khí năng cho các vùng phản xạ sau đây nữa:

1. Đàng sau lưng bắt đầu từ hai bên gáy, xuống cổ, hai bả vai, dọc hai xương bả vai, giữa lưng, vùng thận, xuống bên trên hai xương bánh chè, vùng mông trên xương bánh chè, có các vùng bắp thịt nối liền với các cơ phận trong người.

- Thoa bóp và chuyền thiên khí năng cho các vùng đó khiến cho các cơ phận liên hệ được khỏe mạnh hơn hay hết bệnh.

2. Dọc hai bên cột sống, từ hai bên gáy trở xuống cho tới xương cùng, ở mỗi đầu hai đốt xương sống hai bên đều có dây thần kinh chạy từ tủy cột sống ra ngoài và chạy qua mọi cơ phận và vùng miền trong toàn thân thể.

Xương cột sống chia làm 4 phần:

1) Phần một gồm 7 đốt xương đầu tiên, từ sát óc con xuống tới xương nhô, tức đốt số 7, là phần xương cổ.

Ở kẽ các đốt xương hai bên đều có các dây thần kinh tỏa ra nối liền với các cơ phận trên đầu: trán, mũi, họng, hàm răng trên, hàm răng dưới, hạch hạnh, và tai.

- Phía sau gáy từ vùng sát càng cổ bên trái, xuống cho tới xương bả vai bọc ra phía vai trên và đàng sau cánh vai trái là vùng tương đương với tim.

2) Phần hai gồm 12 đốt xương kế tiếp xuống cho tới phần trên của thắt lưng.

Ở kẽ các đốt xương hai bên đều có các dây thần kinh tỏa ra nối liền với các cơ phận từ trên xuống dưới theo thứ tự từng cặp âm dương như sau:

- Tim: tương đương với vùng sát càng cổ, xuống dưới bả vai trái và trên phần đầu cánh tay trái cộng thêm với 5 đốt xương đầu của phần hai của cột sống.

+ Ruột non: tương đương với các đốt xương thứ 9-12 của cột sống.

- Phổi: tương đương với vùng từ sát càng cổ cho tới đốt thứ 9 phần hai cột sống.

+ Ruột gìa: tương đương với hai đốt 9-10 phần hai của cột sống.

- Dạ dầy: tương đương với các đốt 6-9 phần hai của cột sống.

+ Lá lách: tương đương với các đốt 6-9 phần hai của cột sống.

- Gan: tương đương với các đốt số 6-10 phần hai của cột sống.

+ Mật: tương đương với đốt số 8-9 phần hai của cột sống.

- Thận: tương đương với các đốt số 10-12 phần hai của cột sống.

+ Bọng đái: tương đương với đốt số 11-12 phần hai của cột sống và hai số 1-2 thuộc vùng ba của cột sống.

3) Phần ba gồm 5 đốt vùng thắt lưng

- Bọng đái: tương đương với đốt số 11-12 phần hai của cột sống và hai số 1-2 thuộc vùng ba của cột sống.

4) Phần bốn gồm khúc cuối cùng của cột sống và xương cụt

Hai thăn thịt hai bên cột sống gồm các huyệt tương đương với các cơ phận kể trên. Vì thế, khi phối hợp việc

- chà xát lên xuống dọc cột sống bằng hai bàn tay,

- thoa bóp,

- bấm huyệt và

- chuyền thiên khí năng vào các vùng khác nhau dọc cột sống có thể chữa được nhiều thứ bệnh của lục phủ ngũ tạng một cách vô cùng công hiệu và nhanh chóng.

5) Các huyệt trên Bàng Quang Kinh sau lưng, dọc bên phải cột sống, từ trên ngang vai xuống dưới: BL 11-15, BL 17-28 và BL 32, cũng như các huyệt Nhâm Mạch 3,4,5,12,15,17 (trước bụng) thường được khoa châm cứu chiếu cố vì chúng được coi như các điểm hội tụ và khẩn cấp.

3. Cấu trúc của tai là hình một bào thai trong tư thế chổng đầu xuống đất. Trên hai tai có tất cả mọi điểm và huyệt gắn liền với các cơ phận toàn thân thể. Giái tai tương đương với đầu, phần còn lại tương đương với thân mình. Vành trong của tai là xương sống.

Cấu trúc này là nền tảng của ngành nhĩ châm.

- Thoa bóp mọi chỗ trên hai giái tai, và bên trong bên ngoài tai, hoặc chuyền thiên khí năng trên hai tai là kích thích, củng cố các cơ phận trong người, và chữa lành tật bệnh cho chúng.

4. Đàng sau đầu tính từ trên xuống có 4 vùng liên quan tới:

- việc phối hợp đi đứng,

- lời nói,

- thị giác,

- bệnh óc quay cuồng chóng mặt.

Cào, gãi nhiều hay chuyền thiên khí năng trên các vùng này giúp cải tiến hay chữa bệnh cho các cơ phận liên hệ.

5. Hai bên đầu, từ trên đỉnh đầu xuống song song hướng về phía trước của hai tai, tính từ dưới lên hướng về phía trán, là các vùng liên quan tới:

- cảm giác,

- vận động chân tay,

- chống ngưng trệ,

- giúp lưu thông khí huyết.

Cào, gãi nhiều hay chuyền thiên khí năng trên các vùng này giúp cải tiến hay chữa bệnh cho các cơ phận liện hệ.

Đây là cách thức hữu hiệu giúp chữa tê liệt cho những người bị đứt mạch máu não hay đứng tim. Hễ tê bại bên trái, thì cào đầu bên phải và ngược lại. Cào cả hai bên và hết mọi nơi trên đầu lại càng tốt hơn nữa.

6. Bắp thịt hai bên sống mũi, từ giữa xuống tới lỗ mũi là các vùng liên quan tới:

- bộ máy hộ hấp (suyễn, lạnh phổi, sưng phổi... ),

- đàng sau cổ (nhức đầu, nhức đầu kinh niên, chóng mặt, ù tai, các bệnh về mắt và tai),

- bộ máy tiêu hóa (các chứng khó chịu và đau dạ dày, ruột, gan, lá lách và mật),

- bộ máy tiểu tiện và sinh dục (các chứng khó chịu của bụng dưới, tuyến tiền liệt, bọng đái).

Khi thoa vùng bắp thịt này của hai bên sống mũi hay chuyền thiên khí năng cho nó, chúng ta chữa các thứ bệnh của các cơ phận liên hệ.

7. Trên sống mũi, từ giữa trán xuống cho tới đầu chóp mũi là các điểm châm cứu liên quan tới các cơ phận:

- đầu,

- thanh quản,

- phổi (giữa hai lông mày),

- tim (đầu sống mũi),

- gan,

- lá lách,

- thận.

Đây là các cơ phận âm.

Khi thoa dọc trên sống mũi từ giữa trán xuống, hay chuyền thiên khí năng, chúng ta tác động trên các cơ phận kể trên và củng cố hay chữa bệnh cho chúng.

8. Vùng thịt sát xương sống mũi từ giữa xuống là các điểm liên quan tới: các cơ phận dương:

- mật,

- dạ dầy,

- ruột non,

- ruột già,

- bọng đái.

Khi thoa bóp các điểm này hay chuyền thiên khí năng cho chúng, chúng ta củng cố hay chữa bệnh cho các cơ phận ấy.

9. Vùng thịt sát mũi, từ khóe mắt trở xuống cho tới vành ngoài của mũi vào điểm chính giữa dưới vách ngăn hai lỗ mũi có các điểm liên quan tới:

- tai (ngang mí mắt phía trên),

- ngực (ngang con ngươi),

- các hạch vú (ngang mí mắt dưới),

- gáy, cột sống, xương cổ phía sau, sống lưng,

- vùng ngang thắt lưng,

- háng, hông (đầu chỗ nở của mũi),

- chân, đầu gối (cuối chỗ nở của mũi),

- bàn chân, các ngón chân (dưới chỗ nở của mũi),

- bộ phận sinh dục (dưới vách thịt ngăn đôi lỗ mũi).

Khi thoa dọc vùng này là chúng ta tác động trên các cơ phận liên hệ để củng cố và chữa bệnh cho chúng.

10. Trên lưỡi có các vùng và dây thần kinh nối liền với các cơ phận trong người. Tuy có nhiều kiểu giải thích khác nhau, nhưng có thể nhận ra các vùng tương ứng với các cơ phận từ chót lưỡi vào trong cho tới cuống lưỡi:

- yết hầu, họng

- tim

- dạ dầy

- tuyến tụy

- gan - lá lách

- ruột già khúc lên

- ruột già khúc ngang

- ruột già khúc xuống

- ruột già khúc cuối cùng nối với hậu môn.

Khi cào hay nạo lưỡi là chúng ta tác động trên các cơ phận ấy để củng cố và chữa bệnh cho chúng.

Mắt và răng cũng phản ánh tình trạng sức khỏe

1. Đôi mắt không chỉ là cửa số tâm hồn, mà cũng phản ánh tình trạng sửc khỏe của các cơ phận trong người nữa.

Nhãn cầu chia ra làm nhiều phần tương quan với các cơ phận trong thân thể. Khi một cơ phận bị bệnh các bác sĩ hay lương y nhìn các vùng trên nhãn cầu và nhận ra các chứng bệnh khác nhau, theo các mầu hiện trên nhãn cầu. Thí dụ điển hình nhất là người bị bệnh gan thì có mắt và da mầu vàng.

2. Theo các bác sĩ châm cứu người Đức R. Voll và Kramer, các nhóm răng trên hai hàm răng của chúng ta cũng có tương quan với 5 nhóm cơ phận khác nhau trong thân thể con người:

- các giác quan,

- các cơ khớp chân tay,

- các đoạn tủy tương đương với cổ, thân mình, thắt lưng, đế cột sống, xương cùng,

- các gốc rễ thần kinh cột sống,

- các cơ phận thuộc lục phủ ngũ tạng.

Mỗi hàm có 16 cái răng gồm hai bên, mỗi bên 8 cái cân đối với nhau. Như thế hai hàm răng gồm 4 phần, mỗi phần đều tương đương với 5 vùng khác nhau trong thân thể con người.

1) Vùng thịt từ sau răng khôn cho tới mảng thịt nhô của hàm trên là vùng rất hữu hiệu để châm cứu chữa bệnh đau đầu, đặc biệt là chứng đau đầu căng thẳng hay đau đầu do các cơ phận co thắt, nhức đầu kinh niên, chóng mặt, tai ò, và các khó chịu vùng bả vai, cánh tay và cùi chõ hay khuỷu tay. Ngoài ra đây cũng là vùng chữa mọi loại viêm mũi, viêm cuống phổi, viêm mũi dị ứng, cảm lạnh vì dị ứng cỏ.

2) Vùng thịt từ sau răng khôn cho tới mảng thịt nhô của hàm dưới có các hậu qủa xa trên toàn hệ thống cơ động. Đây là vùng châm cứu giúp chữa các bệnh đau xương cổ, đau lưng, đau thắt lưng, đau hông và thần kinh tọa.

3) Các răng của mỗi hàm được chia thành 5 nhóm như sau:

- 4 răng cửa

- 2 răng nanh (chó)

- 4 tiền răng hàm - 4 răng hàm

- 2 răng khôn

5 nhóm răng này có tương quan với các cơ phận khác trong thân thể con người.

- Hàm trên bên trái từ răng khôn tới răng cửa:

1/ Răng khôn liên quan tới tim, ruột non, khúc ruột non đầu tiên sau dạ dầy, tai, vai, khuỷu tay hay cùi chõ.

2/ Hai răng hàm liên quan tới tụy tạng, dạ dầy, cổ họng, khoang hàm, thanh quản.

3/ Hai tiền răng hàm liên quan tới phổi, ruột già, mũi, hốc mũi, hốc xương mũi, cuống phổi.

4/ Răng nanh liên quan tới gan, mật, đầu gối, mắt, hốc mũi, hạch hạnh vòm miệng, hông.

5/ Hai răng cửa liên quan tới thận, bọng đái, hệ thống tiểu, tai, trán, hạch hạnh yết hầu.

- Hàm trên bên phải từ răng cửa tới răng khôn

1/ Hai răng cửa liên quan tới thận, bọng đái, hệ thống tiểu, tai, khoang trán, hạch hạnh yết hầu.

2/ Răng nanh liên quan tới gan, mật, đầu gối, mắt, hốc mũi, hạnh hạnh vòm miệng, hông, cuống phổi.

3/ Hai tiền răng hàm liên quan tới phổi, ruột già, mũi, khoang mũi, hốc xương mũi, cuống phổi.

4/ Hai răng hàm liên quan tới lá lách, dạ dầy, cổ họng, khoang hàm, thanh quản.

5/ Răng khôn liên quan tới tim, ruột non, ruột hồi (ileum), ruột chay (jejunum), tai, vai, cùi chỏ.

- Hàm dưới bên trái từ răng khôn tới răng cửa:

1/ Răng khôn liên quan tới tim, ruột non, vai, khuỷu tay hay cùi chõ, ruột hồi (ileum), ruột chay (jejunum), tai, các gân vòng ngoài.

2/ Hai răng hàm liên quan tới phổi, ruột già, mũi, khoang mũi, hốc xương mũi, cuống phổi.

3/ Hai tiền răng hàm liên quan tới tụy tạng, dạ dầy, bình chứa bạch huyết cầu, đầu gối, hạch vú, cổ họng, khoang hàm, thanh quản.

4/ Răng nanh liên quan tới gan, mật, hông, đầu gối, mắt, hốc mũi, hạch hạnh vòm miệng.

5/ Hai răng cửa liên quan tới thận, bọng đái, hệ thống tiểu, tai, khoang trán, hạch hạnh yết hầu.

- Hàm dưới từ răng cửa tới răng khôn

1/ Hai răng cửa liên quan tới thận, bọng đái, hệ thống tiểu, tai, khoang trán, hạch hạch yết hầu.

2/ Răng nanh liên quan tới gan, mật, hông, đầu gối, mắt, hốc mũi, hạch hạnh vòm miệng.

3/ Hai tiền răng hàm liên quan tới lá lách, dạ dầy, các bình chứa bạch huyết cầu, đầu gối, hạch vú, cổ họng, khoang hàm, thanh quản.

4/ Hai răng hàm liên quan tới phổi, ruột già, khoang mũi, hốc xương mũi, cuống phổi.

5/ Răng khôn liên quan tới tim, ruột non, vai, khuỷu tay hay cùi chõ, ruột hồi, ruột chay, tai, các gân vòng ngoài.

Vì tương quan của răng với các cơ phận như kể trên đây, nên:

khi chuyền thiên khí năng vào hai hàm răng chúng ta tác động trên các cơ phận liên hệ.

Năm chu kỳ biến đổi của thiên nhiên và cơ phận con người

Khoa châm cứu cổ điển đã biết tới mô thức của 4 chu kỳ tương đương với 4 mùa trong năm là xuân hạ thu đông, ghi dấu tiến trình thay đổi và phát triển của thiên nhiên bao gồm cuộc sống của thảo mộc, súc vật và con người. Sau này, vì các lý do thực tiễn của việc trị liệu người ta thêm vào yếu tố thứ năm là cuối hạ.

1. Lộ trình cuôc sống của một cây đi theo chu kỳ bốn giai đoạn thu, đông, xuân, hạ ấy. Mùa thu hạt giống được gieo vào lòng đất, mọi tiềm lực và năng lực của nó được sử dụng để căng phồng lên theo hai hướng trên và dưới, mầm và rễ trong mùa đông. Cái cây con phát triển trong tiến trình của năng động lớn lên, ra lá, nẩy cành. Tiếp đến là mùa xuân, giai đoạn tột đỉnh cuộc sống của một cây, được biểu lộ qua hình dáng, mầu sắc và mùi thơm của hoa. Rồi tới giai đoạn gặp gỡ thụ thai và sinh trái. Sau đó là giai đoạn trái chín và nẩy hạt. Cái cây bắt đầu rụng lá như dấu chỉ hoàn thành sự chín mùi.

2. Năm chu kỳ đó của thảo mộc cũng diễn tả năm giai đoạn xảy ra trong cuộc sống con người. Chu kỳ 5 nhịp đó tương đương với 5 cơ phận trong thân thể con người.

Yếu tố “thận” được kết hợp với mùa đông, lạnh lẽo và có mưa. Yếu tố “gan” được kết hợp với mùa xuân, có nắng ấm và gió mạnh. Yếu tố “tim” được kết hợp với mùa hạ, nóng bức. Yếu tố “phổi” được kết hợp với mùa thu trong sạch, mát mẻ, khô ráo. Yếu tố “lá lách” được đặt ở trung tâm có tương quan với 4 yếu tố khác. Trung tâm được hiểu như là đất ám chỉ yếu tố đất-người, con người trần thế. Sau đó nó được kết hợp với giai đoạn cuối hạ nhiều ẩm ướt.

Thứ tự các mùa đông, xuân, hạ, thu trao ban sự tiếp nối tự nhiên cho các yếu tố: thận, gan, tim, lá lách - tụy tạng, phổi. Trong khi tiết nhịp các mùa ảnh hưởng trên toàn cơ thể con người, vì con người cũng ở đưới năng động thúc đẩy chuyển biến và tiến trình thay đổi liên tục của biến cố tự nhiên.

3. Các yếu tố ngoại tại này của khí hậu hay vũ trụ cũng vang vọng và âm hưởng trên các cơ phận và yếu tố tâm sinh thể lý của con người. Khoa châm cứu cổ điển phân biệt các tình trạng tâm lý khác nhau và gán cho một trong 5 cơ phận hay yếu tố đó một khía cạnh tâm thần xác định:

- sợ hãi cho thận

- giận dữ cho gan

- suy tư cho lá lách - tụy tạng

- buồn sầu cho phổi

- tươi vui cho tim.

Theo lý thuyết của Năm Yếu Tố, ngoại trừ tim ra, các tình trạng tâm thần tương xứng được coi là đặc thái của sự mất quân bình tâm thần. Nhưng thường khi chúng chỉ được biểu lộ ra trong trường hợp của thái độ bất hình thường.

Tương quan giữa chu kỳ hoạt động của các cơ phận với các đường kinh âm dương và các vùng khác trong thân thể con người

Những gì đã trình bầy trên đây cho phép chúng ta tóm tắt sơ đồ tương quan giữa chu kỳ hoạt động của các cơ phận với các kinh âm dương và các vùng khác trong cơ thể con người. Các sơ đồ tóm tắt này giúp nhận ra tương quan giữa các phần trong thân thể, để biết phối hợp chúng hầu đạt hiệu năng tối đa khi chữa bệnh.

Chu kỳ hoạt động “thận - bàng quang”

** Túc Thiếu Âm Thận Kinh (bắt đầu từ huyệt Dũng Tuyền ở giữa lòng bàn chân phải chạy qua 27 huyệt lên cho tới cuống lưỡi).

** Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh (bắt đầu từ mắt phải chạy qua 67 huyệt xuống cho tới ngón út của bàn chân phải).

** Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh (bắt đầu từ góc trong ngón út bàn tay trái chạy qua 19 huyệt lên cho tới huyệt Thính Cung trước tai).

- liên quan tới xương, toàn bộ xương, tai;

- 3 phần xương dưới cùng của cột sống;

- 2 đốt xương 2-3 của vùng thắt lưng;

- 2 răng cửa hàm trên, 2 răng cửa hàm dưới;

- cuống lưỡi;

- hai điểm thận và bàng quang trên sống mũi;

- hai điểm thận bàng quang vành trong của tai;

- bắp thịt trên mu hai bàn chân;

- bắp thịt phía sau hai đầu gối;

- bắp thịt má;

- bắp thịt trán.

Chu kỳ hoạt động “gan - mật”

** Túc Khuyết Âm Can Kinh (bắt đầu từ góc trong móng ngón cái của bàn chân phải chạy qua 14 huyệt lên cho tới dưới vú phải)

** Túc Thiếu Dương Đởm Kinh (bắt đầu từ đuôi mắt trái chạy qua 44 huyệt xuống cho tới góc ngoài ngón chân thứ tư của bàn chân trái)

** Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu Kinh (bắt đầu từ phía ngoài ngón đeo nhẫn của bàn tay trái chạy qua 23 huyệt lên cho tới đuôi mắt trái cuối lông mày)

- liên quan tới các bắp thịt, gân và mắt;

- phần thứ 3 của bàn chân trái;

- các đốt xương 8,9,10 phần hai của cột sống;

- 2 răng nanh hàm trên; 2 răng nanh hàm dưới;

- hai bên thành lưỡi;

- hai điểm gan mật trên sống mũi;

- điểm gan mật trên vành tai trong;

- bắp thịt mông phía ngoài;

- bắp thịt sau đầu gối;

Chu kỳ hoạt động “lá lách - tụy tạng - dạ dầy”

** Túc Thái Âm Tỳ Kinh (bắt đầu từ góc trong móng chân cái của bàn chân phải chạy qua 21 huyệt tới Đại Bao đi dọc lên hai bên thanh quản thông với cuống lưỡi).

** Túc Dương Minh Vị Kinh (bắt đầu dưới mắt phải đi qua 45 huyệt xuống cho tới mép phải của móng ngón chân thứ hai - gần ngón cái - của bàn chân phải).

** Thủ Dương Minh Đại Trường Kinh (bắt đầu từ góc phải ngón tay trỏ của bàn tay trái đi qua 20 huyệt lên tới huyệt Nghênh Hương bên phải của mũi)

- liên quan tới các mô nối tiếp, miệng;

- vùng dạ dầy trên lòng bàn chân trái;

- các đốt xương 11-12 của phần 2 cột sống;

- đốt xương 1 của phần 3 cột sống (thắt lưng)

- 4 răng hàm của hàm trên;

- 4 tiền răng hàm của hàm dưới;

- phần sau đầu lưỡi;

- hai điểm lá lách tụy tạng dạ d?y trên sống mũi;

- hai điểm lá lách dạ dầy trong vành tai;

- bắp thịt bên trong cạnh dầu gối;

- bắp thịt cổ;

- bắp thịt miệng;

- bắp thịt trên hai gò má.

Chu kỳ hoạt động “phổi - ruột già”

** Thủ Thái Âm Phế Kinh (bắt đầu từ trung tiêu Vị, xuống đại tràng, quay lên dạ dầy, lên phổi, lên thanh quản họng xuống hố nách, đi ra mặt trước qua 11 huyệt tới góc ngoài móng ngón tay cái của bàn tay phải).

** Thủ Dương Minh Đại Trường Kinh (bắt đầu từ góc ngoài móng ngón tay trỏ của bàn tay trái đi qua 20 huyệt tới huyệt Nghênh Hương ở cạnh phải của mũi).

** Túc Dương Minh Vị Kinh (bắt đầu dưới mắt phải đi qua 45 huyệt xuống cho tới mép phải của móng ngón chân thứ hai - gần ngón cái - của bàn chân phải).

- liên quan tới da, tóc, lông, mũi;

- phổi, ruột già trên lòng bàn chân trái;

- các đốt 5,6,7 xương cổ;

- các đốt 2,3,4 phần 2 của cột sống;

- các đốt 4,5 phần 3 của cột sống (thắt lưng);

- 4 răng tiền răng hàm của hàm trên;

- 4 răng hàm của hàm dưới;

- dọc chính giữa lưỡi;

- hai điểm phổi và ruột già trên sống mũi;

- điểm phổi và ruột già trên vành tai trong;

- bắp thịt phía trước của cánh vai phải;

- bắp thịt trên khuỷu tai trái.

Chu kỳ hoạt động của “tim - ruột non”

** Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh (bắt đầu từ tim chạy qua 9 huyệt phía bên ngoài và kết thúc ở huyệt Thiếu Xung, đầu bên trong ngón tay út của bàn tay trái).

** Thủ Thái Dương Tiểu Trường Kinh (bắt đầu từ góc trong ngón út bàn tay trái chạy qua 19 huyệt lên cho tới huyệt Thính Cung trước tai).

** Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh (bắt đầu từ mắt phải chạy qua 67 huyệt xuống cho tới ngón út của bàn chân phải).

- liên quan tới máu, các bình chứa máu, lưỡi;

- vùng tim và ruột già trên lòng bàn chân trái;

- đốt 7 xương cổ;

- các đốt 5,6,7 phần 2 của cột sống;

- các đốt 1,2,3 của phần 4 cột sống;

- 2 răng khôn hàm trên; - 2 răng khôn hàm dưới;

- đầu lưỡi; - hai điểm tim và ruột non trên sống mũi;

- hai điểm tim và ruột non trong vành tai trong;

- bắp thịt ngoài của bả vai phải;

- bắp thịt trước của khuỷu tay trái.

Khi biết các nhiệm vụ và tương quan trong 5 chu kỳ hoạt động của các cơ phận với các phần khác trong thân thể con người, việc phối hợp chuyền thiên khí năng với liệu pháp bấm huyệt, hay thoa bóp phản xạ học để chữa bệnh chắc chắn sẽ đạt nhiều hiệu qủa mau chóng.

 
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Tel: 08. 37171180
Hotline: 0168 9195 876

Mr. Vũ Văn Quí

Mr. Mai Đức Dũng - 0923704353

Bs Nguyễn Thị Sự - 0935805005
 
LIÊN KẾT WEBSITE
VÒNG TAY NHÂN ÁI