PostHeaderIcon THIÊN KHÍ NĂNG, CHƯƠNG 5

Thiên khí năng là sinh lực hiện diện và luân lưu trong vũ trụ dưới muôn vàn dạng thức khác nhau: thần khí, ánh sáng, sức nóng, không khí, gió, lửa vv... Năng lực vũ trụ đại đồng ấy bắt nguồn từ Thiên Chúa và trao ban sinh lực cho mọi loài mọi vật, kể cả mọi thứ chất liệu của thế giới sự vật, mà chúng ta thường lầm tưởng là vô tri vô giác. Ngày nay khoa vật lý, đặc biệt là vật lý nguyên tử và nhất là vật lý duy lượng tử “quantistica” và hạt “quark”, chứng minh cho chúng ta thấy vũ trụ và thế giới này là khí năng, là lực rung động.

 

Thiên khí năng trong thế giới Kinh Thánh

Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước có một số văn bản giúp chúng ta hiểu được sự hiện diện của thiên khí năng trong cuộc sống của mọi chất liệu thuộc thế giới vật chất, thảo mộc, súc vật và con người. Dĩ nhiên, ý niệm về thần khí của Thiên Chúa được nói tới trong Kinh Thánh sâu rộng hơn ý niệm về thiên khí năng rất nhiều. Dầu sao đi nữa, nó cũng giúp chúng ta trực giác được nguồn gốc của thiên khí năng.

Con người là bản vị có thần khí, hơi thở của Thiên Chúa

Khi tả lại cảnh tạo dựng vũ trụ sách Sáng Thế viết: “Thần khí của Thiên Chúa bay là là trên mặt nước uông mang” (St 1,2). Với thần khí đó Thiên Chúa đã tạo dựng nên mọi sự. Tả cảnh tạo dựng loài người soạn giả thuộc trường phái Tư Tế viết: “Thiên Chúa phán: chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,26-27).

Soạn giả thuộc trường phái Giavít tả cảnh Thiên Chúa tạo dựng con người vừa cụ thể vừa thơ mộng hơn: “Giavê Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí (hơi thở sự sống) vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh linh” (St 2,7). Nghĩa là Giavê thông ban chính hơi thở thiên linh của Ngài cho con người, và con người trở thành một bản vị sống động có khả năng bước vào trong liên hệ với Thiên Chúa, với tha nhân và thế giới vạn vật chung quanh. Từ “Nephesh”, được dùng 754 lần trong Kinh Thánh Cựu Ước Do thái, ám chỉ con người bản vị đó. Bản tiếng Anh dịch 472 lần là “linh hồn”, và 282 lần còn lại được dịch bằng 44 từ khác nhau. Con người là một sinh linh, một bản vị có xác có hồn, tức hơi thở của Thiên Chúa, có sự tự do và tinh thần trách nhiệm.

Kinh Thánh thường dùng 3 từ để nói về con người:

1) “basar”, thịt xác;

2) “ruakh” thần khí, hơi thở thiên linh, linh hồn;

3) “nephesh”, con người gồm basar và ruakh, trở thành bản vị sống động có tự do và tinh thần trách nhiệm, có khả năng tương quan với Thiên Chúa, tha nhân và vạn vật.

Khi chết là linh hồn lìa khỏi xác, con người không còn sinh khí và thần khí nên trở thành xác chết tan rữa đi để biến thành tro bụi. Vì không còn sinh khí và thần khí nên xác chết cứng đơ, lạnh ngắt và bất động. Chính vì thế tác giả Thánh vịnh 130 mới khẳng định rằng: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi, lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi. Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới, là chúng được dựng nên và Ngài đổi mới mặt đất này” (Tv 103,29-30).

Phục sinh, sống lại là có được trở lại sinh khí và thần khí, basar, ruakh và trở thành nephesh

Chương 37 sách ngôn sứ Edekiel tả lại cảnh phục sinh của cánh đồng xương khô như sau: “Tay Giavê đặt trên tôi, Giavê dùng thần khí đưa tôi ra, đặt tôi giữa thung lũng; thung lũng ấy đầy xương cốt. Người đưa tôi đi ngang, đi dọc giữa chúng. Những xương ấy nằm la liệt trên mặt thung lũng và đã khô đét. Người bảo tôi: “Hỡi con người, liệu các xương này có hồi sinh được không?” Tôi thưa: “Lậy Giavê là Thiên Chúa, chính Chúa mới biết điều đó”. Bấy giờ Người bảo tôi: “Ngươi hãy tuyên sấm trên các xương ấy: Đây ta sắp cho thần khí nhập vào các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ đặt gân trên các ngươi, sẽ khiến cho thịt mọc trên các ngươi, sẽ trải da bọc lấy các ngươi. Ta sẽ đặt thần khí vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được sống. Bấy giờ các ngươi sẽ nhận biết chính ta là Giavê.” Tôi đã tuyên sấm như tôi được lệnh. Vậy có tiếng động khi tôi đang tuyên sấm; có sự rung chuyển và các xương xích lại gần, ăn khớp với nhau. Tôi nhìn thì thấy trên chúng đã có gân; thịt đã mọc lên và da đã trải ra ở bên trên, nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng. Người lại bảo tôi: “Ngươi hãy nói với thần khí; tuyên sấm đi, hỡi con người! Ngươi hãy nói với thần khí: Giavê là Thiên Chúa phán thế này: Từ bốn phương trời, hỡi thần khí, hãy đến thổi vào những người đã chết này cho chúng được hồi sinh.” Tôi tuyên sấm như Người đã truyền cho tôi. Thần khí liền nhập vào những người đã chết; chúng được hồi sinh và đứng thẳng lên: Đó là cả một đạo quân lớn, đông vô kể” (Ed 37,1-10).

Đây là sự phục sinh của dân Israel nhưng nó cũng biểu tượng cho sự phục sinh của toàn thể nhân loại.

Thần khí hiện diện nơi Đức Khôn Ngoan và muôn loài muôn vật

Sách Khôn Ngoan có một văn bản khác giúp chúng ta hiểu được phần nào bản chất của thiên khí năng. Đối với tác giả sách Khôn Ngoan, thần khí hiện diện nơi Đức Khôn Ngoan tỏa thoát ra từ quyền năng của Thiên Chúa. Ông viết trong chương 7: “Qủa vậy, nơi Đức Khôn Ngoan, có một thần khí tinh tường và thánh thiện, duy nhất và đa năng, tinh tế và mau lẹ, minh mẫn và tinh tuyền, trong sáng và thản nhiên, lanh lợi và chuộng điều lành, bất khuất, từ bi và nhân ái, cương quyết, vững vàng và điềm tĩnh, làm được mọi sự và quan tâm đến mọi điều, thấu suốt mọi tâm can, kể cả tâm can của những người trong sạch, thông minh, tinh tế nhất. Vì chuyển động của Đức Khôn Ngoan thì mau lẹ hơn tất cả các chuyển động. Do tính thuần khiết, Đức Khôn Ngoan thâm nhập và xuyên thấu mọi vật mọi loài. Đức Khôn Ngoan tỏa ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển của Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tì ố, Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người” (Kn 7,22-26).

Thần khí hiện diện nơi sứ giả của Thiên Chúa

Để diễn tả thực tại một người được Giavê Thiên Chúa tuyển chọn và giao cho một sứ mệnh nào đó, Thánh Kinh Cựu Ước thường dùng kiểu nói “Tay của Thiên Chúa ở trên”: Elisa (2 V 3,15), Esdra (Er 7,6) hay một người nào đó (Tv 79,18). Đặc biệt bàn tay Giavê ở trên các ngôn sứ, nắm bắt các vị, trao ban thần khí và sức mạnh của Người cho các vị, biến đổi các vị từ một kẻ tầm thường trở thành sứ giả có khả năng thi hành những gì Thiên Chúa truyền dậy và làm được những việc lớn lao phi thường, kể cả việc cho người chết sống lại (2 V 4,34), vì Thần khí Chúa hiện diện và hoạt động nơi các vị. Điển hình như hai ngôn sứ Isaia và Edekiel: Thiên Chúa túm lấy ngôn sứ Isaia (Is 8,11): tay của Người ở trên ngôn sứ Edekiel (Ed 1,3; 3,22), đè nặng trên ông (Ed 3,14), giáng trên ông (Ed 8,1; 37,1; 40,1), đặt trên người ông (Ed 33,22). Thần khí của Giavê Thiên Chúa bổ xuống trên người vị ngôn sứ, chiếm hữu ông và hướng dẫn toàn con người ông, biến ông trở thành sứ giả của Người, để nói và thi hành những gì Người truyền dậy, mà không cưỡng lại được (Gr 20,7).

Chương 61 sách Isaia miêu tả ơn gọi của ngôn sứ như sau: “Thần khí của Giavê Thiên Chúa ngự trên tôi, vì Giavê đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân...” (Is 61,1)

Đây là văn bản sẽ được Đức Giêsu thành Nagiarét dùng lại để miêu tả sứ mệnh cứu thế của Người (Mt 3,16; Lc 7,22).

Logos Lời tạo dựng

Nếu theo Thánh Kinh Cựu Ước Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ vạn vật và loài người với Thần Khí và Lời phán của Người, thì theo Thánh Kinh Tân Ước, Thiên Chúa tạo dựng mọi sự nhờ Logos, Lời, Ngôi Lời.

Thật thế, trong Thánh Kinh Tân Ước có một văn bản rất sâu sắc giúp chúng ta hiểu được phần nào ý niệm về thiên khí năng: đó là bài thánh thi kitô học trong chương 1 Phúc Âm thánh Gioan, trong đó Ngôi Lời là nguyên lý tạo dựng vũ trụ. Văn bản viết: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Ga 1,1-3). Đức Giêsu Kitô chính là Ngôi Lời Sự Sống và Ánh Sáng đó: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9).

Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng và đặt tay chữa lành tật bệnh

Bốn Phúc Âm trong Thánh Kinh Tân Ước trình thuật sinh hoạt rao giảng Tin Mừng, xua trừ quỷ dữ và chữa lành tật bệnh của Đức Giêsu Kitô, ngôn sứ thành Nagiarét, Ngôi Lời Con Thiên Chúa nhập thể làm người (Ga 1,1-5.9-14.16-18). Các thánh sử dùng hai kiểu nói để miêu tả các vụ chữa lành tật bệnh của Đức Giêsu: đó là “đặt tay” và “đụng vào”.

“Đặt tay” là một cử chỉ quan trọng trong thế giới do thái nói riêng và trong thế giới vùng Trung Đông Cổ nói chung. Cha mẹ hay các bô lão và người lớn tuổi hoặc các người lãnh đạo đặt tay trên đầu để chúc lành cho con cháu và những người trẻ tuổi hơn hay người kế vị mình. Qua cử chỉ đặt tay, người ta thông truyền cho người khác một phần bản chất của chính mình. Nó có thể là một điều kiện tội lỗi hay một phẩm giá, hoặc một đức tính tinh thần, hay một phước lành (St 48,14).

Sách Lêvi kể lại việc cử hành lễ nghi của Ngày Xá Tội, trong đó tư tế Aharon đặt tay trên đầu con dê đền tội, và xưng thú hết mọi tội lỗi của dân Do thái, rồi đuổi nó vào trong sa mạc (Lv 16,20-22). Các tư tế đặt tay trên các lễ vật sát tế (Xh 29,10). Trước khi qua đời ông Môshê đã đặt tay trên đầu ông Giôsuê để tấn phong ông làm người kế vị dẫn dắt dân Israel. Và ông Giôsuê được tràn đầy Thần khí của Giavê Thiên Chúa (Ds 27,18; Đnl 34,9). Lễ nghi đặt tay thánh hiến và tấn phong này vẫn còn thịnh hành trong các lễ truyền chức Linh Mục và Giám Mục của Kitô giáo hiện nay.

Ngôn sứ Elisa nằm sấp trên người đứa bé đã chết, con người đàn bà Sunem, và đặt tay trên tay nó để cho nó hồi sinh (2 Cv 4,34).

Trong trường hợp của Đức Giêsu, Người “đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dậy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10,35; 4,23).

Người đặt tay trên các người bệnh và chữa lành họ để biểu lộ lòng xót thương của Đấng Cứu Thế đối với những người yếu đuối tật nguyền, đồng thời Người thông truyền cho họ sức lực và đức tin của chính Người. Vì từ con người của Đức Giêsu có một năng lực phát ra chữa lành tật bệnh: đó là trường hợp của người đàn bà bị bệnh băng huyết 12 năm. Bà lách đám đông đến đàng sau sờ vào áo của Chúa, vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo của Người thôi, là sẽ được cứu. Tức khắc máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình được khỏi bệnh” (Mc 5,27-29). Thánh Luca ghi lại lời Chúa Giêsu nói: “Có người đụng vào Thầy vì Thầy biết có một năng lực tự nơi Thầy phát ra” (Lc 8,43-46).

Đức Giêsu không chỉ là ngôn sứ và rabbi giảng dậy hấp dẫn có quyền uy, mà còn là người làm được rất nhiều phép lạ và chữa lành mọi bệnh tật nữa. Người giơ tay ra đụng vào người phong cùi, lập tức anh được khỏi bệnh (Mt 8,3; Mc 1,41-42; Lc 5,13). Người cầm tay bà nhạc ông Phêrô và bà khỏi bệnh sốt (Mt 8,15; Mc 1,31; Lc 4,39). Một người thủ lãnh có con gái chết đến xin Đức Giêsu đến đặt tay trên nó, là nó sẽ sống. Và qủa thế, Người đến cầm lấy tay cô bé, nó liền chỗi dậy (Mt 9,18.25). Đó là bé gái con của ông Giairô chủ hội đường do thái (Mc 5,22-23; Lc 8,54-55).

Một đôi khi Đức Giêsu có những cử chỉ của các thầy chữa bệnh thời ấy, như đặt ngón tay vào tai và nhổ nước miếng bôi vào lưỡi của người điếc và ngọng để chữa bệnh cho anh (Mc 7,31-35). Hay Người nhổ nước miếng vào mắt anh mù và đặt tay trên anh và trên mắt anh để cho anh sáng mắt (Mc 8,23-25).

Người cũng chữa đứa bé bị động kinh và truyền cho thần câm điếc ra khỏi nó, rồi giơ tay nâng nó đậy (Mc 9,25-27). Thánh sử Luca ghi nhận Đức Giêsu chữa các người bệnh bằng cách đặt tay trên họ, chẳng hạn như trường hợp chữa người đàn bà gù lưng (Lc 13,13). Dân chúng đem người bệnh đến với Đức Giêsu để Người chữa cho họ lành: “Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ” (Lc 4,40).

Một đôi khi tật bệnh liên quan tới tội của người bệnh, như trường hợp người bị bại liệt nằm trên giường được người ta rỡ mái nhà thòng xuống trước mặt Đức Giêsu. Người tha tội cho anh, rồi truyền cho anh đứng dậy vác giường mà về (Lc 5,17-25). Đó cũng là trường hợp của người bất toại đã 38 năm bên hồ nước Bếtdatha. Sau khi chữa anh lành và gặp anh trong Đền Thờ, Đức Giêsu dặn anh đừng phạm tội nữa kẻo phải khốn hơn trước (Ga 5,1-14).

Nhưng không phải bệnh nào cũng do tội lỗi gây ra. Đó là trường hợp anh mù từ lúc mới sinh được Đức Giêsu cho sáng mắt, bằng cách nhổ nước miếng xuống đất trộn thành bùn, xức vào mắt anh và sai anh đi rửa mắt ở suối Siloac (Ga 9,1-7).

Tiếng tăm của Đức Giêsu được đồn thổi khắp nơi nên Người đi đến đâu, “thiên hạ cũng đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc dủ thứ bệnh hoạn tật nguyền, những người bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt và Người đã chữa họ” (Mt 4,24; Mc 1,28.32-34; Lc 4,37.40). Người chữa lành hết mọi bệnh tật (Mt 12,15). Dân chúng đi theo Người và ai có bệnh cũng đổ xô đến sờ vào Người (Mc 3,7-10; Lc 6,17-19; Mt 14,35; Mc 6,54-55). Và Đức Giêsu trao trả lại sức khỏe cho những người đau yếu (Lc 9,11; Mat 14,13; Mc 6,33; Ga 6,2).

Tóm tắt các sinh hoạt cứu thế của mình Đức Giêsu trả lời cho các môn đệ do ông Gioan Tẩy Giả sai đến như sau: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù được xem thấy, kẻ què đi được, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,4-5).

Nhưng Đức Giêsu không chỉ đặt tay để chữa bệnh, Người cũng đặt tay trên các trẻ em để chúc lành cho chúng nữa (Mt 19,13; Mc 10,13; Lc 18,15).

Đức Giêsu sai các môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng, ban cho các ông quyền xua trừ quỷ dữ và chữa lành tật bệnh

Thánh sử Mátthêu ghi rõ ràng: “Rồi Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10,1; Mc 3,14-15; 6,7)

Thánh Luca cũng viết: “Đức Giêsu tập hợp Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật. Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,1-2).

Sách Công Vụ trình thuật lịch sử Giáo Hội thời khai sinh cho biết sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, các Tông Đồ đã hiên ngang rao giảng Tin Mừng cho dân chúng, chữa bệnh và làm nhiều phép lạ. Phêrô đã chữa cho người què ngồi ăn xin ở Cửa Đẹp Đền Thờ đi được (Cv 3,1-11).

Thánh Luca ghi trong chương 5: “Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân nhờ bàn tay các Tông Đồ... Người ta còn khiêng cả những kẻ đau ốm ra tận đường phố đặt trên giường trên chõng, để khi ông Phêrô đi qua, ít ra cái bóng của ông cũng phủ lên được một bệnh nhân nào đó. Nhiều người từ các thành chung quanh Giêrusalem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo cả những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành” (Cv 5,12.15-16).

Tông Đồ Phêrô đã chữa lành ông Enê ở Lốt đã từng bị tê bại 8 năm (Cv 9,32-34), và cho bà Tabitha ở Giaphô sống lại (Cv 5,36-42).

Sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Đức Giêsu Kitô phục sinh trên đường đến thành Damasco, Phaolô đã được ông Anania đặt tay trên đầu để được sáng mắt, lấy lại sức và được tràn đầy Thánh Thần (Cv 9,17). Từ đó, ông bắt đầu rao giảng Tin Mừng, đặc biệt cho dân ngoại. Tại Lystra ông đã chữa cho một người bại chân từ khi lọt lòng mẹ đi được (Cv 14,8-10).

Sau khi đắm tầu tại đảo Malta, Phaolô và các bạn tù đã được quan Puplio tiếp đón trọng hậu trong đồn điền của ông. Thân phụ của quan nằm liệt giường vì bị sốt và kiết lỵ. Phaolô đã vào thăm, cầu nguyện, đặt tay trên ông và chữa ông khỏi. Thấy thế các bệnh nhân khác trên đảo cũng đến với ông và được chữa lành (Cv 28,7-9).

Các đặc sủng khác nhau trong Giáo Hội

Trong thư thư I gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô cho tín hữu biết Thiên Chúa ban cho tín hữu các đặc sủng khác nhau và viết: “Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dậy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bầy. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ; người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định Thần Khí; kẻ khác thì đươc ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người” (1 Cr 12,4-11).

Tuy nhiên, trong tất cả mọi ân huệ của Thiên Chúa, đức mến là cao trọng hơn cả, vì không có đức mến mọi đặc sủng khác không là gì hết. Nói cách khác, càng biết yêu thương bao nhiêu, các đặc sủng Chúa ban cho chúng ta càng sinh lợi cho chính chúng ta và cho mọi người khác bấy nhiêu!

Ở đây tưởng nên phân biệt Thần Khí như Ngôi Ba Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần, với thần khí là sức mạnh, là năng lực, là thiên khí năng được ban cho muôn loài muôn vật, đặc biệt là cho con người để con người là một bản vị sống tràn đầy khỏe mạnh và hạnh phúc.

Giáo Hội tiếp nối sứ mệnh rao truyền Tin Mừng, xua trừ quỷ dữ và chữa lành tật bệnh của các Tông Đồ

Tất cả những gì đã được ban cho các Tông Đồ xưa kia Chúa Giêsu đã không bao giờ lấy lại. Điều này có nghĩa là Giáo Hội vẫn có bổn phận rao truyền Tin Mừng, có quyền xua trừ quỷ dữ và chữa lành tật bệnh.

Ngày nay, các thừa tác viên có chức thánh đều có quyền trừ quỷ, và cũng có các vị đặc biệt được Giám Mục giáo phận chỉ định làm việc này. Nhưng việc chữa lành tật bệnh đã hầu như hoàn toàn bị quên lãng, vì nhiều lý do, trong đó có sự phát triển của y khoa và dược khoa, cũng như sự phát triển an sinh và các điều kiện sống vệ sinh, văn minh tiến bộ hơn.

Tuy nhiên, tại nhiều nơi, đặc biệt nơi đâu có phong trào Canh tân đặc sủng Thánh Linh hoạt động mạnh, vẫn có các thánh lễ và các buổi cầu nguyện chữa lành tật bệnh. Dĩ nhiên, ở đây việc khỏi bệnh là do tác động của ơn thánh Chúa, nhưng sức mạnh, năng lực Đức Giêsu ban cho các môn đệ như đã trình bày trên đây, giúp chúng ta hiểu phần nào ý niệm về nguồn gốc và khả năng chữa lành tật bệnh của thiên khí năng. Nó là một đặc sủng, nhưng khi bước vào trong lãnh vực sinh học và vật lý nó cũng là một khả năng, một kỹ thuật mà ai cũng có thể học hiểu, thủ đắc và sử dụng để chữa bệnh.

Thiên khí năng trong quan niệm của đông y

Trong đông ý khí là một trong các thực tại nòng cốt vô cùng quan trọng và cần thiết cho sự sống con người.

Ba kho tàng nền tảng của sự sống và sức khỏe của con người

Có ba kho tàng làm nền tảng cho sự sống và sức khỏe của con người: đó là Sinh, Khí và Thần. Cả ba khía cạnh đều diễn tả sức sinh động nội tại, sinh lực và bản chất của con người. Trong quan niệm đông phương không có sự tách rời thân xác khỏi trí khôn, cái vật lý khỏi cái không vật lý, và cả ba thực tại này đều vừa là vật chất vừa không là vật chất.

1) “Sinh” là sức mạnh sáng tạo hiện diện trong tinh trùng của người cha và trứng của người mẹ. Chính chất liệu nền tảng này tạo thành thân thể con người và duy trì các nhiệm vụ của sự sống. Trong cuộc sống nó được tạo thành bởi các chất dinh dưỡng là thực phẩm và nước. Sinh là tiềm năng sự phát triển của con người. Nó là gia tài di truyền của con người.

2) “Khí” là ý niệm không chuyển dịch được. Nó vừa là sinh lực, vừa là nguyên lý tổ chức chảy qua mọi sự và thiết lập tương quan giữa chúng. Mọi vật, kể cả không khí và đá sỏi, đều có khí. Trong cơ thể con người khí được diễn tả bằng sinh hoạt của tim và phổi, bằng cách luân chuyển máu và dưỡng khí. Khí chỉ huy dòng chảy của máu trong toàn thân thể dưới ảnh hưởng của việc hít thở. Mọi di chuyển và hành động của con người tùy thuộc nơi khí của chúng ta. Bản chất dinh dưỡng của thực phẩm và dưỡng khí cũng được coi là khí. Đôi khi người ta dịch khí là “năng lượng”, nhưng thực ra khí bao gồm cả sức mạnh và bản chất của một vật nữa.

3) “Thần” tương đương với ý niệm linh hồn của Kitô giáo. Nó cũng là thành phần của bản vị con người. Nó được biểu lộ ra nơi cá tính, tư tưởng, nhận thức và ý thức về mình.

Ba chất nền tảng

Có ba chất nền tảng quan trọng đối với sức khỏe của con người: đó là khí, huyết và chất lỏng. Chúng bị ảnh hưởng bởi thực phẩm, kiểu sống và môi sinh. Cả ba phát xuất từ thực phẩm, nước và khí; chúng tùy thuộc và ảnh hưởng trên nhau. Từ “chất lỏng” ám chỉ lưu lượng và chất ướt trong thân thể bao gồm nước mắt, mồ hôi, nước miếng, chất nhờn và nước tiểu.

Khí

”Khí” là ý niệm không thể diễn tả bằng lượng. Nó được biểu lộ qua mắt, hình dạng thân thể, giọng nói, và hàng trăm dấu chỉ và triệu chứng hiện diện nơi từng cá nhân. Khí của mỗi người là duy nhất và thay đổi.

Khí miêu tả sức sinh động của mọi vật, sống cũng như không sống, và sự thay đổi từ hình thái này sang hình thái khác. Người ta thường so sánh khí với điện. Chúng ta không giải thích được điện một cách có khoa học rõ ràng, nhưng có thể nói lên hay miêu tả nhiều hình dạng và nhiệm vụ của điện.

Khí có 5 nhiệm vụ:

1) Di chuyển: Khí cho phép và đồng hành với mọi hình thái di chuyển, bao gồm cả hoạt động vật lý, ngữ học và sinh hoạt trí tuệ.

2) Bảo vệ: Khí cung cấp sự kháng cự chống lại bệnh tật.

3) Biển đổi: Khí cho phép thân thể biến đổi thực phẩm, khí, chất lỏng thành chất sống nuôi dưỡng.

4) Điều hòa sự toàn vẹn vật lý và chất lỏng: Khí giữ cho các cơ phận và chất lỏng ở trong ranh giới quân bình của chúng, và phòng ngừa việc mất qúa nhiều chất lỏng và máu.

5) Kiểm soát nhiệt độ: Khí giữ thân thể ở trong độ nóng bình thường cần thiết cho sự sống.

Khí lưu thông trong thân thể con người dọc theo các đường kinh, mạch, lạc. Châm cứu, bấm huyệt, thoa bóp phản xạ học, diện chẩn và cả thiên khí năng nữa đều nhằm tác động trên dòng chảy của khí qua một hay nhiều kinh mạch khác nhau, để đả thông, sửa chữa, và tái lập thế quân bình khí, huyết và chất lỏng cho các cơ phận, loại bỏ sự bất hài hòa và vô trật tự trong các cơ phận gây ra các tật bệnh.

Thiên khí năng trong thần thoại Ấn Độ

Trong truyền thống Ấn Độ, các chakra được kết hiệp với một vị thần gọi là Kundalini. Vị thần này được miêu tả như là một con rắn say ngủ cuộn tròn dưới đế cột sống. Khi tỉnh dậy, nó leo lên từng chakra một, cho tới con xoáy trên đỉnh đầu. Kundalini đi ngang qua và thức tỉnh chakra, cho phép nó sống kinh nghiệm mới mẻ của ý thức gắn liền với mức độ đó. Khi tất cả mọi chakra đều được thức tỉnh, thì chủ thể được soi sáng, được giác ngộ.

Dòng chảy Kundalini hướng lên cao và chạy trong các đường kinh gọi là Nadi. Có 72.000 đường kinh trong đó có 3 kinh chính là là “Sushumna”, “Ida” và “Pingala” chảy song song hai bên. Đây là 3 dòng sông năng lực, gọi theo tên của ba con sông có thật bên Ấn Độ, được coi như là các nữ thần nước. “Ida” và Pingala” là hai dòng sông chảy lên cao song song bên trái và bên phải của cột sống theo hình xoáy như hai con rắn, giống như cấu trúc của yếu tố di truyền DNA.

1) “Sushumna” là dòng sông năng lực chảy thẳng từ phần dưới lên phần trên của cơ thể, từ đất lên trời, bên trong cột sống. Nó là con sông huyền bí Sarasbati, rất hay được nhắc tới thời xa xưa, nhưng đã biến mất. Nó có nghĩa là “rất dễ thương”. Nó như một con rắn cuộn tròn xoắn lên cao, vì thế nó được gọi là sức mạnh của con rắn, “Kunda'lini”, nghĩa là năng lực di chuyển theo hình xoáy trôn ốc và là một lốc xoáy năng lực. Lên tới đâu nó thức tỉnh, soi sáng và dưỡng nuôi các mức độ khác nhau của chakra nó đi qua. Kundalini diễn tả một năng lực cao hơn dẫn đưa tới các mức độ ý thức cao hơn, và người có được năng lực đó hiểu biết và cảm nghiệm được niềm hạnh phúc lớn lao, có được các khả năng hoàn thiện và tâm linh siêu nhiên.

2. “Ida” ở bên trái là dòng sông đem lại tươi mát, hay diễn tả năng lực nữ, như ánh sáng dịu mát của mặt trăng. Nó là tên của một nữ thần Ấn Độ thuộc truyền thống Veda, và quy chiếu về sông Gange là nữ thần mẹ. Bên Ấn Độ các sông là giống cái, vì phát xuất từ Mẹ Đất.

3. “Pingala” ở bên phải là dòng sông mầu vàng của Mặt Trời và quy chiếu về sông Yamana, cũng là một nữ thần.

Trong huyền thoại ấn độ còn có một khía cạnh khác: đó là ý niệm về “Gunas”. Các Gunas là 3 sợi dây nối liền vùng đất không được biểu lộ là “Prakriti”, từ đó vũ trụ phát triển.

1) Sợi thứ nhất tên là “Tamas” diễn tả vật chất: đó là Prakiti trong hình thái đặc nhất.

2) Sợi thứ hai tên là “Rajas” diễn tả khí năng, sự chuyển động: đó là Prakiti trong hình thái thay đổi.

3) Sợi thứ ba tên là “Sattva” có nghĩa là trí tuệ hay ý thức: đó là Prakiti trong hình thái trừu tượng.

Toàn vũ trụ này bao gồm 3 Gunas giao thoa nhau ấy và tạo thành các mức độ hiện hữu khác nhau.

Cả các chakra cũng bao gồm 3 Gunas trong các tỉ lệ khác nhau.

Trong nền văn hóa của mọi dân tộc cổ xưa, các huyền thoại hay thần thoại là một thứ ngôn ngữ trực giác thường diễn tả các thực tại vượt ngoài tầm hiểu biết của khoa học đơn sơ.

Ngày nay, chúng ta biết đó là các kinh mạch chạy dọc trong thân thể con người ngang qua các chakra là các điểm thu hút, tiếp nhận và phân phát thiên khí năng hiện diện trong vũ trụ cho tất cả mọi tế bào của thân thể và nuôi sống chúng.

Thiên khí năng trong triết học và sinh lý học truyền thống Ấn Độ

Ý nghĩa và cấu trúc của “chakra”

Triết lý và sinh lý học truyền thống ấn độ dùng từ “Cakra” trong tiếng Phạn (Sanscrito), thường được viết là “chakra”, có nghĩa là “bánh xe” để diễn tả nhiều điều, trong đó có “luồng xoáy”. Lý do là vì khí năng “Prana” (trong tiếng Phạn) di chuyển theo vòng xoáy hay các làn sóng. Do đó có thể tạm dịch “chakra” là “luân xa”, bánh xe quay. “Prana” là hơi thở, là hơi thở trao ban sự sống, là năng lượng vũ trụ, là khí năng thấm nhập và đỡ nâng thân thể con người và biểu lộ ra trong các thụ tạo một cách hiển nhiên như hơi thở. Tuy nhiên, khí năng có nhiều kiểu di chuyển, trong đó có việc di chuyển như các làn sóng, các rung động lồng cuốn vào nhau, uyển chuyển, giao thoa nhau thành nhiều lớp.

Tại nền tảng của mỗi một cơ phận có một sinh lực, nguyên lý của sự chuyển động, nhân lên và tăng trưởng. Sinh lý học ấn độ liệt kê ra 5 loại sinh lực: hơi thở (prana); lưu thông (vyana); chuyển hóa (samana); sa thải (apana); và các nhiệm vụ cao hơn của thân thể cho phép nó tiếp xúc với phần tinh thần (udana).

Điểm tới của mức độ này là sự hiểu biết sâu thẳm của sinh khí năng (prana-vidya), nhờ đó cuộc sống của cá nhân hòa nhập với cuộc sống của vũ trụ.

Trong truyền thống tây phương các chakra đó được coi là các “Tru ng tâm sức mạnh” hay các “Ý thức tinh thần”. Và trong y khoa chúng tương đương với các hạch nội tiết. Trên bình diện hệ thống cơ cấu chakra diễn tả một nhiệm vụ sinh tử của một hệ thống sự sống được cấu trúc thành nhiều mức độ khác nhau.

Như thế, các chakra là các điểm sức mạnh của con người, thường được kết hiệp với các cơ phận vật lý, qua đó khí năng di chuyển được xác định một cách khác nhau. Sự hiểu biết các chakra được truyền lại bởi nhiều hệ thống thiền yoga theo các truyền thống ấn giáo, phật giáo và giainít. Nhiều truyền thống đồng thừa nhận rằng các chakra giống như các van năng lực.

Tình trạng mất quân bình của một chakra sẽ kéo theo sự mất quân bình năng lượng hay khí năng trong các cơ phận xác định liên hệ. Mỗi một chakra có một trung tâm riêng rẽ nơi có một trong bẩy hạch nội tiết của cơ thể con người. Nó có nhiệm vụ kích động việc sản xuất kích thích tố của hạch nội tiết đó để bảo vệ và điều hòa sức khỏe cho thân xác.

Theo sách Vedanta, là phần kết luận (anta) nền văn chương Veda của Ấn Độ, tức Kinh Upanishad được sáng tác giữa các năm 800-500 trước công nguyên, thân thể vật lý có các cơ phận và thân thể tế vi bao gồm các cảm xúc, tư tưởng, tri giác, các tình trạng ý thức tạo thành một toàn thể duy nhất. Hai thân thể này được nối liền với nhau trên bình diện các chakra. Vì thế khi tác động trên thân thể vật lý, là tạo ra một hiệu qủa trên thân thể tế vi, và ngược lại khi tác động trên thân thể tế vi, là tạo ra một hiệu qủa trên thân thể vật lý. Một tật bệnh gây đau đớn trên thân xác kéo theo hậu qủa ảnh hưởng trên tinh thần. Một đau đớn tinh thần kéo theo hậu qủa trên thân xác khiến cho nó bị suy yếu và lâm bệnh.

Nền văn chương Veda phân biệt 3 bình diện hay mức độ nền tảng của sự hiên hữu, bình diện này phản ánh bình diện kia:

1) Thứ nhất là bình diện thiên linh, nguyên lý của tất cả.

2) Thứ hai là thế giới trung gian của các năng lượng và các mẫu gốc.

3) Thứ ba là thế giới được biểu lộ của vật chất.

Mỗi bình diện tác động trên hai bình diện kia. Từ Brahman, là Nguyên Lý Tạo Dựng toàn năng và toàn tri, nảy sinh ra Sức Đẩy Tạo Dựng biến đổi một năng lượng thành vật chất. Trong trật tự từ trên đi xuống đó, tín hữu ấn giáo định nghĩa tương quan giữa Thiên Chúa với con người hay liên hệ giữa Đại Vũ Trụ, thành phần của lãnh vực vũ hoàn, và Tiểu Vũ Trụ, thành phần của lãnh vực nhân thế. Tương quan giữa Đại Vũ Trụ và Tiểu Vũ Trụ được xác định bới các Nguyên Tắc Phối Hợp. Mục đích tối hậu của con người là đạt tới nguyên lý của mình. Có nhiều con đường thực hiện giúp con người đạt đối tượng tinh thần đó, trong đó có con đường tịnh thiền Yoga, dựa trên hệ thống các chakra, tức các trung tâm khí năng trên thân thể con người.

Các chakra được đồng hóa với hoa sen, biểu tượng cho sự trong sạch. Hoa sen là loài hoa trong trắng xinh đẹp, mọc trong nước ao tù bùn lầy hôi thối, nhưng không bị ô nhiễm. Trong biểu tượng học ấn độ, nước tù diễn tả tình trạng hỗn độn uông mang thời khởi thủy, và hoa sen vươn lên từ đó diễn tả sự vươn lên tinh thần. Mỗi một bông sen có một số cánh đặc biệt, một Yantra đặc biệt (mandala hay hình thể hình học), một mantra và được kết hiệp với một yếu tố (tattva), một ý nghĩa và một mầu sắc.

Hệ thống các chakra và các vùng tương ứng trong thân thể con người


- Mọi sinh vật, con người, đa số các súc vật và một vài thảo mộc đều có 7 chakra chính hay tiên khởi. Theo vài truyền thống mỗi chakra giống như một “luồng xoáy” nhỏ với phần nhọn hướng về thân thể phần to hướng ra bên ngoài, và mỗi chakra có hai phần hay hai cực, một cực hướng về phía trước thân mình và một cực hướng về phía sau thân mình. Như thế tổng cộng có 12 chakra, song song và đối nhau.

- Nhóm thứ hai gồm các chakra nhỏ ít quan trọng hơn, ở hai bắp chân, ở trung tâm hai lòng bàn tay và vài chakra ở vùng bàn chân, trên lưỡi hay ở các chỗ khác.

- Nhóm thứ ba gồm một số các chakra có chiều kích nhỏ hay cực nhỏ không thể đếm được. Vì ở bất cứ đâu có hai đường năng lực hay khí năng gặp nhau, ngay cả khi chúng có bé tí xíu đi nữa, cũng đều có một chakra. Nghĩa là trong cơ thể con người có hàng ngàn chakra lớn nhỏ khác nhau.

- Số chakra thay đổi tùy theo trường phái thiền. Theo trường phái Hatha-yoga có 6 chakra, tạo thành một hệ thống duy nhất nối liền với các đường kinh bên trong cơ thể. Các cơ phận tương ứng không luôn luôn đồng nhất giữa các tác giả biê n soạn sách và tài liệu.

Vào các thời sau nữa, Phật giáo Tantra và trường phái Kundalini-yoga cho rằng có 7 chakra với các thứ tự sau đây:

1. Chakra số một tên là “Muladhara”, có nghĩa là “gốc, đỡ nâng”, cũng còn gọi là chakra nền, hay chakra hội âm.

- Yếu tố của nó là đất (Thổ).

- Mầu đỏ.

- Nhiệm vụ truyền sinh, sống còn, nguyên lý bảo tồn, ý thức hiện hữu.

- Liên quan tới tuyến thượng thận, hệ thống tiêu và thải, cột sống, hệ thống trung tâm thần kinh, phần ruột dưới, bộ sinh dục, xương, răng, phần sau chân và đùi, các chi thể phía dưới, móng tay.

2. Chakra số 2 tên là “Svadhisthana”, có nghĩa là “sự dịu dàng”, cũng còn gọi là chakra xương cùng, hay bụng dưới.

- Yếu tố của nó là nước (Thủy).

- Mầu vàng cam.

- Nhiệm vụ tìm thỏa mãn tính dục và truyền sinh, thực vật và bản năng, các nhu cầu sống thoải mái, ý thức khoái cảm.

- Liên quan tới các tuyến sinh dục, bộ phận truyền sinh, thận, bọng đái, tử cung, tuyến tiền liệt, phần ruột dưới, hệ thống huyết tương, ruột già.

3. Chakra số 3 tên là “Manipura”, có nghĩa là “ngọc ngời sáng”, hay chakra thận.

- Yếu tố của nó là lửa (Hỏa).

- Mầu vàng.

- Nhiệm vụ chuyển biến tiêu hóa và xúc cảm, hành động và liên lạc, ý thức và ý muốn.

- Liên quan tới tuyến tụy, gan, mật, lá lách, dạ dầy, ruột non, các bắp thịt.

4. Chakra số 4 tên là “Anahata”, có nghĩa là “không bị đánh trúng”, hay chakra tim.

- Yếu tố của nó là khí, thay đổi và tế vi, thấm nhập khắp nơi.

- Mầu xanh lá mạ.

- Nhiệm vụ luân lưu, yêu thương, ý thức về tha nhân và thế giới ngoại tại.

- Liên quan tới tim, phổi, ngực, máu và hệ thống lưu thông của khí huyết, nhựa sống, các chi thể phía trên, cánh tay.

5. Chakra số 5 tên là “Vishuddha”, có nghĩa là “thanh tẩy”, hay chakra cổ.

- Yếu tố của nó là khí êter, yếu tố vô hình không thể cảm thấy nhưng hiện diện khắp nơi trong vũ trụ.

- Mầu xanh da trời.

- Nhiệm vụ truyền thông.

- Liên quan tới tuyến giáp trạng, cổ họng, yết hầu, thanh quản, tai, cuống phổi, lưỡi, và các dây thần kinh mặt.

6. Chakra số 6 tên là “Ajna”, có nghĩa là “tri thức”, hay chakra trán, huệ nhãn, con mắt thứ ba.

- Yếu tố của nó là ánh sáng.

- Mầu trắng hay giữa mầu xanh da trời và tím.

- Nhiệm vụ tuyến óc và ý chí, thị kiến sáng suốt.

- Liên quan tới mắt, tai, trán, mũi, tuyến não thùy, kiểm soát hệ thống duyến nội tạng, hệ thống trung tâm thần kinh.

7. Chakra số 7 tên là “Sahasrara”, có nghĩa là “ngàn lá”, hay chakra đỉnh đầu, trung tâm, hội dương.

- Yếu tố của nó là các rung động.

- Mầu tím hay cầu vồng tức tất cả mọi mầu.

- Nhiệm vụ màng óc và trực giác.

- Liên quan tới tư tưởng, tuyến não thùy, óc và màng óc.

Hai chakra 1 và 7 điều khiển toàn hệ thống thần kinh trong thân thể con người, vì tác động trên não bộ và toàn cột sống.

Tuy nhiên, hệ thống 12 chakra xem ra có lý hơn cả. Để dễ nhớ, cứ bắt đầu từ phía sau lưng, từ dưới lên trên và vòng ra phía trước bụng:

1. Hội âm

2. Xương cùng

3. Thận

4. Tim

5. Cổ - Đại trùy

6. Óc con - Não hộ hay Tiểu não

7. Hội dương

8. Trán - Ấn đường

9. Cổ - Thiên đột

10. Ức - Chiên trung

11. Rốn

12. Hạch đan diền (dưới rốn 1 ngón tay trỏ)

Trong trường hợp đó các chakra làm thành 6 cặp song song với nhau.

1 với 7 (Hội âm - Hội dương)

2 với 12 (Xương cùng - Đan điền)

3 với 11 (Thận - Rốn)

4 với 10 (Tim - Ức)

5 với 9 (Cổ - Thiên đột)

6 với 8 (Óc con - Ấn đường)

Ngoài ra, mu và lòng hai bàn tay hai bàn chân cũng có chakra. Đàng trước và đàng sau hai khuỷu tay và hai đầu gối cũng có chakra.

7 hào quang chung quanh thân thể con người


Vì là từ trường có thiên khí năng luân lưu nên con người phát ra hào quang 7 mầu. Mắt thường không trông thấy, nhưng với máy có thể nhận ra.

Khi con người khỏe mạnh, các mầu rạng ngời. Khi con người đau yếu, các mầu mất sắc, trở thành xám, nâu hay đen.

Khi chuyển thiên khí năng vào các chakra nói trên và vào các vùng bị bệnh là chúng ta tác động trên mọi cơ phận trong thân thể con người, tái lập thế quân bình, củng cố hệ thống miễn nhiễm, trao ban sức mạnh cho các cơ phận giúp chúng hồi phục và hoạt động bình thường trở lạị.

 
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Tel: 08. 37171180
Hotline: 0168 9195 876

Mr. Vũ Văn Quí

Mr. Mai Đức Dũng - 0923704353

Bs Nguyễn Thị Sự - 0935805005
 
LIÊN KẾT WEBSITE
VÒNG TAY NHÂN ÁI